Toplist

Top 6 Bài văn Phân tích kỳ diệu nghệ thuật và thẩm mỹ trong Người lái đò Sông Đà (Ngữ văn 12) hay nhất

Nguyễn Tuân chắc rằng đã tâm đắc lắm với những vần thơ sông ở trong phòng thơ Ba Lan nọ. Chẳng vậy mà sông nước xứ mình đã chảy trên không biết bao nhiêu trang văn đẹp của ông, trong đó có sông Đà, con sông đã trao tên cho một dự án công trình văn xuôi tuyệt tác. Tôi đoán chắc rằng không thể chỉ mong muốn săn tìm cảm hứng hay cái máu phiêu lãng giang hồ đã xui khiến cho bước đi Nguyễn Tuân tìm tới dòng chảy vĩ đại này của núi rừng Tây Bắc. Nhất định phải có một tiên cảm, tiên giác nghệ thuật và thẩm mỹ sáng suốt nào truyền tai cho những người người nghệ sỹ tài hoa về nguồn cảm hứng sông Đà hàng chục năm trước đó lúc “dòng sông ánh sáng” đó thực sự trở thành một địa chỉ lớn của nhạc, hoạ, sân khấu, thơ, văn. Và từ ấy đến nay, cho dù đã có biết bao người khắc, vẽ và kể chuyện về sông Đà, làm thơ và ca hát với sông Đà thì sẽ xuất hiện lẽ vẫn không ai vượt hơn được Nguyễn Tuân trong việc biến vùng sông nước ấy thành nghệ thuật và thẩm mỹ, thành một quyến rũ mênh mông. Dưới trên đây là những Bài văn Phân tích kỳ diệu nghệ thuật và thẩm mỹ trong Người lái đò Sông Đà (Ngữ văn 12) hay nhất mà Toplist sưu tầm và tổng hợp.

1


Thai Ha

Bài xem thêm số 1

Nguyễn Tuân chắc rằng đã tâm đắc lắm với những vần thơ sông ở trong phòng thơ Ba Lan nọ. Chẳng vậy mà sông nước xứ mình đã chảy trên không biết bao nhiêu trang văn đẹp của ông, trong đó có sông Đà, con sông đã trao tên cho một dự án công trình văn xuôi tuyệt tác. Tôi đoán chắc rằng không thể chỉ mong muốn săn tìm cảm hứng hay cái máu phiêu lãng giang hồ đã xui khiến cho bước đi Nguyễn Tuân tìm tới dòng chảy vĩ đại này của núi rừng Tây Bắc. Nhất định phải có một tiên cảm, tiên giác nghệ thuật và thẩm mỹ sáng suốt nào truyền tai cho những người người nghệ sỹ tài hoa về nguồn cảm hứng sông Đà hàng chục năm trước đó lúc “dòng sông ánh sáng” đó thực sự trở thành một địa chỉ lớn của nhạc, hoạ, sân khấu, thơ, văn. Và từ ấy đến nay, cho dù đã có biết bao người khắc, vẽ và kể chuyện về sông Đà, làm thơ và ca hát với sông Đà thì sẽ xuất hiện lẽ vẫn không ai vượt hơn được Nguyễn Tuân trong việc biến vùng sông nước ấy thành nghệ thuật và thẩm mỹ, thành một quyến rũ mênh mông.

Tuy vậy để làm ra một niềm quyến rũ sông Đà có tầm cỡ, vóc dáng như của Nguyễn Tuân thì cảm xúc và tài quan sát vẫn còn đó chưa đủ. Nhớ lại, Xuân Diệu từng thiết tha nói đến việc sự rất quan trọng phải uyên bác ngay trong một nghành nghề trữ tình nhất là thơ. Tôi nghĩ Nguyễn Tuân cũng có thể có thẩm quyền như vậy, có lúc còn hơn thế – tất nhiên trong phạm vi lãnh thổ của ông là kí, là tuỳ bút – để chỉ ra rằng rằng sự uyên bác ấy mà thậm chí nâng đỡ đến thế nào cho đôi cánh của hào hoa. Càng đọc văn Nguyễn Tuân, lại càng nghiệm ra rằng, nhà văn rất dị ấy luôn luôn luôn luôn rất dị trong sự uyên bác, rằng con người tài hoa, tài tình hiếm ai bì kịp ấy cũng đồng thời cùng lúc là con người luôn luôn luôn luôn có những hiểu biết khôn lường, khôn sánh về những gì được nói tới ở văn minh. Trường hợp sông Đà là vậy. Phải là Nguyễn Tuân và có lẽ chỉ có Nguyễn Tuân mới không ngại nhọc công dò đến ngọn nguồn lạch sông, truy tìm đến tới nơi gốc tích khai sinh của sông Đà, để hiểu chỗ phát nguyên của nó thuộc huyện Cảnh Đông và thoạt kì thuỷ, dòng sông mang những cái tên Trung Hoa mà tiếng động dẫu sao cũng gợi ra không hề ít thơ mộng: Li Tiên, Bả Biên Giang. Và cũng không dễ có người như Nguyễn, để mà thậm chí hạ bút viết đúng ba câu về sắc nước Đà giang đã phải mấy lần bay ngang trên miền sông ấy. Để rồi sau đó, mới nói chắc như đinh đóng cột rằng nước sông Đà không hề đen; trái lại, nó xanh màu ngọc bích dưới trời xuân, khác với sông Gấm sông Lô nước “xanh canh hến” (tác giả mới kì công làm sao trong quan sát và chọn tìm từ!), còn mỗi độ thu về, nước sông Đà lại “lừ lừ chín đỏ như da mặt một người bầm đi vì rượu bữa”. Cứ theo trên đây thì có lẽ ai dám bảo những đấng tài hoa viết văn không khó nhọc? Ai dám nói rằng cái cốt cách phong lưu tài tử như của Nguyễn Tuân cho phép nhà văn cứ việc thả sức rong chơi, chờ lúc thần hứng đến với mình thì chỉ việc một lần phất bút là đã đủ làm ra tấm lụa từ ngữ đẹp mê hồn?

Nhưng không nên quên Nguyễn Tuân được xem là một bạn dạng ngã vãn chương không hề giống với một ai, và cũng không thể có một ai mong bắt chước. Những trang viết trong Người lái đò Sông Đà đẹp còn vì tác giả đã in cái bạn dạng ngã rất dị ấy vào sông nước Đà giang, đã thêm cái vẻ đẹp rất chủ quan của tâm hồn và tưởng tượng vào cái vẻ đẹp rất khách quan của dòng sông, để từ từ làm cho dưới ngòi bút, tuôn chảy một con sông Đà mang ý nghĩa thật riêng ở trong phòng văn, một con sông Đà đã được đoạt được và phân phối bởi thứ quyền năng riêng của người cầm bút mà Nguyễn Tuân vốn có nhiều hơn thế ai hết – tôi muốn nói đến việc thứ quyền năng của ngôn từ.

Hãy thử lấy ra trên đây một trong rất nhiều ví dụ. Ở đầu trích đoạn Người lái đò Sông Đà trong sách Văn học 12 có đoạn tả “cảnh đá bờ sông dựng vách thành” và những bức thành vách đá cao chẹt chật lấy lòng sông hẹp. Cái hẹp ấy của lòng sông, tác giả đã tả nó ra theo đủ cách: Nào là “Mặt sông lúc ấy chỉ lúc đúng ngọ mới xuất hiện giời”. Nào là con hổ con nai mà thậm chí vọt qua sông, và chỉ việc nhẹ tay thôi cũng mà thậm chí ném hòn đá từ bờ này sang bên kia vách. Những ý văn như vậy kể cũng từng thú lắm. nhưng vẫn còn đó chưa khiến cho ta phải thán phục, phải ghê gớm cho tài nghệ của Nguyễn Tuân như trong câu cuối đoạn này: “Ngồi trong khoang đò qua quãng ấy, đang ngày hè mà cũng thấy lạnh, cảm thấy mình như đứng ở hè một chiếc ngõ mà ngóng vọng lên một khung cửa sổ nào trên cái tầng nhà thứ mấy nào vừa tắt phụt đèn điện”. Một sức hút thông thường làm sao có nổi một chiếc so sánh vừa đúng mực, tinh xảo, lại vừa bất thần và lạ lùng đến thế. Lân cận những câu viết thế này, tôi chắc nhiều người sẽ nhận ra mình nghèo nàn biết bao nhiêu cả về từ ngữ và ý tưởng. Có cảm hứng cái bậc văn nhân hằng biết sợ cái cảnh “mình bỗng chốc trở thành người cùng đường bên dòng sông chữ quạnh trắng thê lương” ấy luôn luôn luôn luôn lục lọi đến tới kiệt cùng cái khó tuyệt vời đầy ăm ắp để tìm cho bằng ra một cách nói có sức kinh động hồn trí con người.

Nguyễn Tuân đang nói với ta về một sông Đà hung bạo. Một nhận xét như vậy sẽ không tồn tại nhiều thời gian làm việc gây sự ngạc nhiên, nếu chúng ta không tận thị giác thấy nhà văn đã hao tổn công phu đến thế nào để bắt sự hung bạo kia phải nổi hẳn lên thành hình khối và gào thét lên trong muôn vạn tiếng động.

Người đọc đã như được tác giả đặt cưỡi lên con thuyền đang vun vút phăng phăng xuống thác để cảm thấy quanh mình nước thác hò reo bốn mặt và những hòn đá ngỗ ngược phía trước kia như nhất tẽ “nhổm cả dậy để vồ lấy thuyền”.

Không khó khăn gì để thấy trong đoạn này, nhà văn đã sử dụng rất nhiều nhân hoá, để nhờ đó, đọc ra từng sắc diện người trong những hình thù đá vô tri. Ống đã cổ sử dụng thật hết sức mạnh điêu khắc của ngôn từ để truyền hồn sống vào cụ thể từng thớ đá. Dễ mấy ai nhìn ra những khuôn mặt đá kiểu thế này: “Một hòn ấy trông nghiêng thì y như là đang hất hàm hỏi cái thuyền phải xưng tên tuổi trước lúc giao chiến. Một hòn khác lùi lại một chút và thử thách cái thuyền có tốt thì tiến gần vào”. Tồi chắc những chữ như “hất hàm”, được viết tài đến thế, thì hoặc phải xoẹt đến trong óc nhà văn như một ánh chớp thiêng của luồng cảm hứng và lập tức xác định ngay trong câu viết, nếu không thì phải gò lấy nó bằng cả một “từ công phu”.

Cái dáng đá hất hàm ấy trông nó xấc xược, hỗn hào, du côn một cách rất là văn minh. Nhưng đọc cả đoạn văn, vẫn cảm tưởng thấy tác giả Người lái đò Sông Đà cứ như muốn vừa tìm sự hoà ứng vừa như muốn tranh đua với ca khúc thứ XII của Ô-đi-xê bất hủ, đoạn tả chiếc thuyền của Uy-lit-xơ vượt qua khoảng giữa hai con quái thạch Karip và Xila. Hãy nghe lại âm vang hào tráng của Hô-me-rơ từ bao nhiêu nghìn năm trước đó: “Cửa Hàng chúng tôi… chèo thuyền tiến thẳng vào eo biển hiểm nghèo ở một phía là Xila, ở một phía là Karip ùng ục ngốn nước biển. Mỗi lần nó nhả nước ra, cả biển khơi đều hoạt động, sôi lên như nước trong chảo đặt trên một bếp lửa hồng… Rồi lúc nó lại nuốt nước mặn vào thì làm biển sùng sục cuộn lên; vách đá xung quanh kêu réo ghê sợ, và đáy biển lòi ra với mặt cát đen thẫm… Có phải là ta đã hội ngộ trong cái hung bạo của sông Đà ngày hôm nay rất nhiều thần thái cái hung bạo của chốn eo biển nào rất xa xôi tận thời cổ đại?

Người ta bảo trong số nhà văn thật lớn thường vẫn còn đó một đứa trẻ thơ, và đứa trẻ ấy giúp nhà văn giữ được cái nhìn cảm tính trong trẻo hồn nhiên mà người lớn vẫn để cằn cỗi héo tàn đi trên đường đời khó nhọc. Trường hợp Người lái đò Sông Đà có lẽ cho phép ta được nghĩ thêm: trong đôi thị giác ở trong phòng văn lớn ngày hôm nay hình như vẫn lấp lánh lung linh tia thị giác không những của tuổi thơ đời người mà còn của cả thời ấu thơ thế giới. Và của cả những mức độ vẫn cổ xưa nhưng có thân thiết chúng ta hơn. Đọc những dòng viết về thạch trận Đà giang, tôi cứ cảm thấy nó phảng phất những trận đổ trường xà, bát quái cũng có thể có đủ cửa tử lối thoát hiểm trong truyện cũ. Rồi lại chợt nhớ ra Gia Cát Khổng Minh cũng từng có lần lấy đá làm binh. Cứ thế, sự dữ dội của sông Đà được nhân mãi lên trong trùng trùng liên tưởng.

Nhưng đoạn văn tả đá thác sông Đà bủa vây, chận bắt một chiếc thuyền xuôi đơn độc tôi thấy không những có một màu hung tợn. Còn mà thậm chí cảm nhận ở trên đây bóng dáng của Nguyễn Tuân như một nhạc trưởng đang điều khiển và tinh chỉnh một dàn giao hưởng chơi thật hùng tráng bài ca của gió thác xô sóng đá. Ban sơ, tác giả mới để cất lên khúc dạo đầu với những cung bậc nỉ non của một dòng nước thác “nghe như là oán trách gì, rói lại như là van xin, rồi lại như là khiêu khích”. Thế rồi bất thần tiếng động được phóng to hết cỡ ,những nhạc khí bừng bừng thét lên khúc nhạc của một thiên nhiên tự nhiên đang ở đỉnh điểm của một cơn phấn khích mạnh mẽ và tự tin và man dại, trong đó âm vang điên loạn của núi rừng được đưa vào để thanh viện cho sự diễn tả con thác khó tính ầm ầm va đập vào bờ đá. Tiếng sóng thác – nhà văn viết – “nó rống lên như tiếng một ngàn con trâu mộng đang lồng lộn giữa rừng vầu rừng tre nứa nổ lửa, đang phá tuông rừng lửa, rừng lửa cùng gầm thét với đàn trâu da cháy bùng bùng”. Dám lấy lửa để tả cái vốn đối lập với lửa là loại nước, dám lấy rừng để tả sông.
Nguyễn Tuân quả đã chơi ngông lắm trong nghệ thuật và thẩm mỹ. Nhưng ông chơi ngông mà ta thì được: ta được một chiếc nhìn tổng quan hơn và thú vị hơn về sự việc tương giao sức mạnh giữa những lực lượng tự nhiên. Cũng vậy, tôi nghĩ rằng rất nên chiêm ngưỡng và ngắm nhìn vẻ đẹp kì vĩ của tạo hoá trong những câu viết thế này: “Ngoặt khúc sông lượn thấy sóng bọt đã trắng xoá cả một chân giời đá”. Và tôi nghĩ lòng Nguyễn Tuân chắc cũng sảng khoái hào hứng lắm lúc nó rung lên với “trận nước vang trời thanh la não bạt”.

Trên trên đây là hình ảnh của một thiên nhiên tự nhiên mà Nguyễn Tuân từng đã muốn “trông nó thành ra diện mạo và tâm địa một thứ quân địch số một”. Nhưng cũng rất đúng nếu nói rằng thiên nhiên tự nhiên ấy cũng đó là kẻ tôn vinh số một giá trị của con người.

Thật thế, người lái đò sông Đà kia sẽ là ai, nếu con thuyền của ông không phải vật lộn với “dòng thác hùm beo đang hồng hộc thế mạnh trên sông đá”? Mà thậm chí người ấy sẽ mang một vẻ đẹp nào khác của một loại ông ngư, ông chài, ông lái… nhưng sẽ không còn thể trở thành đối tượng người dùng của một khúc hùng ca. Trái lại, chính cái hùng vĩ của sóng của thác, của sông nước Đà giang sẽ đưa con người dám đương đầu và thắng lợi thần đá thần sông lên hàng oai linh tối thượng.

Người xưa vẫn coi “cưỡi cơn gió mạnh, đạp đầu sóng dữ” là biểu trưng cho một lí tưởng sống nhân vật. Thì ông lái đò sông Đà này, dưới ngòi bút của Nguyễn Tuân cũng đó là con người cưỡi gió đạp sóng theo cả nghĩa đen lẫn nghĩa bóng đấy còn gì! Nhà văn đã sử dụng tâm diễn tả trận chiến giữa ông lái với dòng sông theo hướng: thoạt đầu tưởng như hai phía rất không cân sức. Nào là, quanh con người đơn độc, “mặt nước hò la vang dậy…ùa vào mà bẻ gãy cán chèo”. Nào là “sóng nước như vậy quân liều mạng vào sát nách mà đá trái mà thúc gối vào bụng vào hông thuyền”, để đội thuyền lên, để lật ngửa mình thuyền giữa vang trời thác réo. Những luồng sóng thì thi nhau “đánh hổi lùng, đánh đòn tỉa, đánh đòn âm” vào chỗ dễ tổn thương nhất của con người… Sẽ tốn khá giấy mực đấy, nếu muốn kể hết ra đấy cái khối lượng hùng hậu những từ ngữ mà Nguyễn Tuân đã trở về từ bên nhà võ để hào phóng vốc tung ra trên những trang văn!

Vậy mà đối địch lại, ông đò có những gì? Một chiếc thuyền mỏng manh manh, trên đó, con người thật nhỏ bé xíu biết bao giữa luồng thác đang khó tính, hai tay ghì níu lấy mái chèo, hai chân kẹp chặt vào cuống lái, mặt méo bệch hẳn đi do “cố nén vết thương” (Xin được lưu ý rằng Nguyễn Tuân không viết “méo xệch” mà viết là “méo bệch”. Ra cái đau đớn tàn bạo của dòng nước nó còn làm cho bợt bạt cả sắc mặt người).

Thế nhưng ba lớp trùng vi của một thạch trận đầy cửa tử đang không ăn chết được một con thuyền đơn độc hết chỗ lùi. Những dũng tướng phá trận thời trước, nếu vào đúng lối thoát hiểm và đánh thốc ra đúng lối thoát hiểm là đối phương tan tành thế trận. Ông đò của Nguyễn Tuân cũng thế. Nhà văn như muốn, qua trường hợp ông đồ, cùng mỗi chúng ta nghiền ngẫm điều triết lí: giữa cái toàn cầu của độc dữ và nham hiểm, cái toàn cầu đầy sức mạnh mạn dại và lập lờ cạm bẫy, con người vẫn đủ thời gian làm việc tìm thấy luồng sinh. Người lái đò của Nguyễn Tuân không tồn tại phép thuật. Ông đâu có đôi cánh tay Hec-quyn nào để sánh được với sức lực của Thuỷ Tinh. Nhưng ông “đã nắm chắc binh pháp của thần sông, thần đá”. Và cái kinh nghiệm đò giang sông nước, lên thác xuống ghềnh, không, phải nói là cái trí tuệ của người lao lực ấy đã tạo cho ông lái, dù trong tay chỉ có cây chèo (cái que nhỏ giữa nguy nga sóng thác!) vẫn mà thậm chí phá thành vượt ải như một chiến tướng bách thắng trong sự nghiệp đấu tranh chống thiên nhiên tự nhiên. Một cảm hứng hào hùng đã khiến cho ngòi bút Nguyễn Tuân tả một cuộc vượt thác sông Đà vẫn ra mắt thường nhật thành một trận đánh biến ảo, thú vị, một khúc hát ca tụng chiến công của một bậc nhân vật. Có quá lời, có đáng ngạc nhiên chăng, nhất là ở một nhà văn văn có tiếng là kiêu bạc? Tôi không cho rằng như vậy. Theo tôi, đừng nghĩ Nguyễn Tuân chỉ ca tụng một người. Ông ca tụng Lao Động, ca tụng Con Người, ông theo cách của tớ làm cho “hai tiếng Con Người vang lên tự tôn biết bao!”. Người lái đò sông Đà – nhà văn muốn vậy – thể hiện cái tư thế ngự trị của Con Người trước Thiên Nhiên thần thánh.

Và lúc trong thiên tùy bút của Nguyễn Tuân mái chèo của ông đò vừa ngừng chống nhau cùng thác đá thì dòng sông Đà tự nhiên đổi vẻ. Lời văn của Nguyễn giờ đây cũng bềnh bồng với bầu trời ngày xuân ngày thu, nơi tác giả từ trên tàu bay mà nhìn xuống “từng nét sông tãi ra trên đại dương đá lờ lờ bóng mây dưới chân mình”. Để từ đó, bậc du tử tài hoa đã vẫy bút vẽ ra cả một bức tranh thuỷ mặc chỉ trong một câu văn, cái câu sẽ còn vương vấn mãi trong hồn bao bạn đọc: “Con Sông Đà tuôn dài tuôn dài như một áng tóc trữ tình, đầu tóc, chân tóc ẩn hiện trong mây trời Tây Bắc bung nở hoa ban hoa gạo tháng hai và cuồn cuộn mù khói núi Mèo đốt nương xuân”.

Nếu được phép tỏ bày ý thích riêng, thì quả thực, tình cảm của tôi có phần được đặt nhiều hơn thế vào đoạn tả con sông Đà trữ tình này. Làm sao mà thậm chí không yêu lối viết của Nguyễn trong cái khúc nói về cái lần nhà văn “nhìn Sông Đà như một cố nhân”. Lúc đầu, chỉ là cảm hứng còn mơ hồ về một sự “thèm chỗ thoáng”, do “ở rừng đi núi cũng từng hơi lâu”, thậm chí còn “quên đi mất là mình sắp đổ ra Sông Đà”. Rồi con sông hiện ra, nhưng chỉ một chút thôi, loang loáng như nghịch ngợm, đúng là cảm hứng về cái nhìn con sông thấp thoáng, xa xa của con người còn phải bộ hành trong rừng cây, trên đèo dốc. Chợt kịp lúc nhận ra được dòng sông – người bạn cũ thì sao mà nó sâu xa, ngơ ngẩn thế, trong cái ánh “yên hoa tam nguyệt” đọng sắc hoe hoe vàng tự thuở Đường thi. không ít còn hiểu được vì sao cái vui hội ngộ sông Đà cố nhân nó tương tự “nối lại chiêm bao đứt quãng”. Nhưng thật khổng biết tại làm sao tác giả lại cảm hứng được “nắng giòn tan… ”? Chỉ biết lúc ba chữ ấy đã viết ra rồi thì rõ là không thể nào đúng hơn, hay hơn, không thể nào đổi khác. Và cứ thế, cái “đằm đằm âm ấm” của nắng ngày xuân trên dòng sông xuân lâu ngày hội ngộ nó dư sức làm thấm thía thêm niềm niềm vui sướng được sống trên mặt đất này.

Nhưng kì diệu hơn thế nữa, theo tôi, là đoạn văn chính thức từ câu viết: “thuyền tôi trôi trên Sông Đà”. Câu văn viết toàn thanh bằng, đẹp như một lời thơ. Mà đoạn văn xuôi ấy, sao tôi thấy nó thơ hơn nhiều lắm so với bao nhiêu bài thơ tôi đã đọc. Chắc phải có người thơ nào thèm muốn tạo được sự lặng lẽ đầy mơ mộng của một mũi đò lừ lừ trôi giữa đôi bờ hoang dại, cái lặng lẽ tuyệt đối để ru hồn người vào cái ảo giác về bờ sông tiền sử, về một nỗi niềm cổ tích hay hoài niệm về thời Lí thời Lê… Và là cái lặng lẽ mơ màng đến độ con người chờ mong một sự giật mình để rũ mình ra khỏi giấc mơ xưa mà không được. Ngày xuân dòng Đà giang được nhà văn cho e ấp tỏ mình qua mấy lá non nhú lên trên một nương ngô và những nõn búp cỏ gianh đồi núi. Rồi con hươu, mới tuyệt làm sao hình ảnh “con hươu thơ ngộ ngẩng đầu nhung khỏi áng cỏ sương”. Nhẩm lại lúc viết Sông Đà, Nguyễn Tuân đang đi đến bờ tuổi ngũ tuần, và kể thì hồn văn ấy đã già từ Vang bóng một thời, từ Một chuyến du ngoạn. Nghĩ thế lại càng thấy quý cái bờ ngỡ non tơ đến tuổi năm mươi lại nảy lộc trong nhà văn bên một dòng sông, một cuộc đời mới mẻ.

Và cảm xúc đáng quý ấy cứ du dương mãi trong tôi với những tiếng động văn xuôi rất đáng để gọi là “nên câu tuyệt diệu”: “Hỡi ông khách Sông Đà có phải ông cũng vừa nghe thấy một tiếng còi sương?”. “Đàn cá dầm xanh quẫy vọt lên mặt sông bụng trắng như bạc rơi thoi… Dòng sông quãng này lững lờ như nhớ thương những hòn đá thác xa xôi để lại trên thượng nguồn Tây Bắc”… Tôi cảm thấy chiếc bè thơ kết bằng những câu văn xuôi ấy đem lại cho mình một thứ nhã thú văn chương mà phải nói rằng cũng còn hiếm gặp ở trong đời.

Nhưng tác giả Người lái đò Sông Đà cũng không phải con người duy mĩ. Ta trọng sự tinh xảo của ông trong cảm thức về nét đẹp. Nhưng qua thiên tuỳ bút, ta hiểu rằng cái còn đáng trọng hơn thế nữa của ông vẫn là tình yêu thiết tha thiên nhiên tự nhiên tổ quốc, là việc tôn kính công sức của con người lao lực của con người.

Hình minh hoạ
Hình minh hoạ




2


Thai Ha

Bài xem thêm số 2

Con sông Đà thân yêu thời nay đã cho nhân dân ta thủy điện, đem ánh sáng đến mọi miền tổ quốc. Cách trên đây trên bốn thập kỉ, nhà văn Nguyễn Tuân, đã viết “Sông Đà”, trong đó có bài kí “Người lái đò sông Đà” ngợi ca cảnh sắc hùng vĩ, tráng lệ của sông núi và sự quả cảm, tài hoa của con người Tây Bắc. Áng văn này đích thực là một “Tờ hoa”, một “Trang hoa”, thể hiện những nét kỳ diệu của phong thái nghệ thuật và thẩm mỹ Nguyễn Tuân – một người nghệ sỹ lớn, tiêu biểu cho nền văn xuôi Việt Nam văn minh: uyên bác, tài hoa, rất dị.

Bài kí có hai nhân vật – hình tượng để lại cho những người đọc nhiều cảm xúc thẩm mĩ, này là hình ảnh con sông Đà và người lái đò trên Đà giang.

Mấy thế kỉ trước, đường lên Tây Bắc cơ bản đi theo đường sông Đà, ca dao có câu:

“Đường lên Mường Lễ bao xa,

Trăm bảy cái thác, trăm ba cái ghềnh”.

Sông Đà hùng vĩ, vừa hung dữ, vừa thơ mộng xinh đẹp. Nguyễn Tuân coi sông Đà là người bạn thân thiết, một “cố nhân”với nhiều thương nhớ, bồi hồi. Đọc một em học viên hiểu thêm: Li Tiên và Bả Biên giang là hai cái tên xa xưa của Đà giang. Và độ dài của nó là 883 nghìn mét, riêng từ đoạn biên giới Việt – Trung đến ngã ba Trung Hà dài đúng 500 cây số lượng rồng rắn.

Sông Đà hung dữ có lắm thác nhiều ghềnh. Nguyễn Tuân như một nhà thám hiểm – du ngoạn đi xa biết nhiều, đến sơn cùng thủy tận, kể cho ta nghe tên bao nhiêu con thác dữ, những cái tên là lạ hay: thác En, thác Giăng, Mó Tôm, Mó Nàng, Suối Hoa, Hót Gió, thác Tiếu, thác Bờ,… Nhà văn cho biết thêm từ thác Tiếu trở xuống sông Đà êm ả, bình yên; người Thái mới có câu tục ngữ: “Qua thác Tiếu trải chiếu mà nằm”.

Ở thượng nguồn, lòng sông Đà có đoạn thắt lại “như cái yết hầu”, đôi bờ vách đá dựng thành “con nai, con hổ mà thậm chí vọt từ bờ này sang bờ kia”. Ở ghềnh Hát Loóng “nước xô đá, đá xô sóng, sóng xô gió, cuồn cuộn gùn ghè….” dài hàng mấy cây số! Có những cái vực với những hút nước sâu thẳm như giếng bê tông “nước thở và kêu ặc ặc như cửa cống cái bị sặc”, ở phía trên lừ lừ những cánh quạ đàn đang chờ mồi. Tiếng động tiếng thác mới ghê rợn, lạ lùng như tiếng rống của hàng nghìn con trâu mộng đang lồng lộn giữa rừng tre, rừng vầu bị cháy. Nguyễn Tuân tạo ra những so sánh và liên tưởng rất “đắt”cho thấy óc quan sát, cách nghĩ cách cảm của ông về thác, ghềnh Đà giang. Có những lúc ông ví sông Đà hung dữ có “diện mạo và tâm địa” một thứ quân địch số một của con người. Nó hung hãn, nham hiểm, xảo quyệt, gian ác với bao “thạch trận”, bao “trùng vi” có những ông tướng đá dữ tợn, lạnh lùng đứng trấn giữ lớp lớp “cửa tử” và “lối thoát hiểm” với những boong ke chìm mai phục khắp lòng sông, sẵn sàng nhấn chìm, bẻ gãy tan tành những con thuyền đi qua. Sông Đà lại có mùa, có đoạn đẹp một cách hữu tình: “Ngày xuân dòng xanh ngọc bích… Ngày thu nước sông Đà đỏ mặt một người bầm đi vì rượu bữa…”. Vào cuối tháng hai vào đầu tháng ba, hoa ban hoa gạo nở bung núi rừng Tây Bắc “Con sông Đà tuôn dài tuôn dài như một áng tóc trữ tình…”. Hình ảnh những đàn hươu ngốn cỏ gianh, những nương ngô xanh rờn, những con cá dầm xanh quẫy vọt lên mặt nước sông “bụng trắng như bạc rơi thoi” gợi lên vẻ đẹp kì thú, hoang sơ của Đà giang.

Nguyễn Tuân đã viết nên những đoạn văn tuyệt hay và tuyệt đẹp nói lên vẻ hoang sơ của sông Đà: ‘Thuyền tôi trôi trên sông Đà. Cảnh ven sông ở trên đây lặng tờ… Bờ sông hoang dại như một bờ tiền sử. Bờ sông hồng thời trước”. Sông Đà càng trở nên thơ mộng với “những con đò đuôi én thắt mình dây cổ xưa” ở vùng trung lưu và “những con đò mình nở chạy buồm vải” vùng hạ lưu. Đọc “Người lái đò Sông Đà”, hơn lúc nào hết ta cảm nhận một cách thâm thúy câu thơ đề từ: “Đẹp vậy thay tiếng hát trên dòng sông”. Với tình yêu sông núi của một con người tài hoa, Nguyễn Tuân đã tả sông Đà một cách phong phú và đa dạng, biến hóa muôn màu muôn vẻ. Không khí nghệ thuật và thẩm mỹ và thời hạn thẩm mĩ vừa thực vừa mộng, đã khơi gợi trong tâm người đọc tình yêu thiết so với Đà giang – mảnh hồn Tổ quốc thiêng liêng.

Hình ảnh người lái đò sông Đà được khắc hoạ khá rất dị. Con người này như dẫn ta đi xuôi ngược dòng sông, lúc vượt thác, lúc cưỡi ghềnh. Này là một người làm ăn tốt, thạo nghề sông nước. Với con thuyền sáu mái chèo, ông tung hoành xuôi ngược trên mặt trận sông nước, “nắm chắc binh pháp của thần Sông, thần Đá”. Ông đã đưa con thuyền vượt qua nhiều cửa tử để đi vào lối thoát hiểm, xuôi dòng bình yên. Hơn mười năm liền chở đò xuôi ngược trên sông Đà, tiếng nói của ông “ào ào như tiếng nước trước mặt ghềnh sông”. Mái tóc nay đã bạc “cái đầu quắc thước đặt một thân cao to và gọn quánh như chất sừng, chất mun”. Cánh tay ông “trẻ tráng” quá; nhìn ông lão bảy mươi tuổi mà ta tưởng như mình đang đứng trước một chàng trai vạm vỡ. Bả vai và ngực ông nổi lên những “củ nâu” dấu vết của những tháng ngày chèo đò vượt thác. Nguyễn Tuân gọi này là thứ “Huân chương lao lực siêu hạng”.

Nhà văn đi sâu miêu tả ông lái đò đưa thuyền qua ba thạch trận trên mặt trận sông nước. Cảnh ghềnh thác rất là dữ dội, ghê sợ. Lúc thì ông tả thác qua tiếng động nước nghe được, lúc thì ông tả cái hút nước thị giác tìm thấy được như một quãng phim cận cảnh quay nhanh. Cảm hứng được khơi dậy, nhà văn tung ra một kho ngôn từ phong phú, phong phủ để diễn tả trận chiến đấu của người lái đò với thần Đá thần Sông. Cảnh tượng vượt thác ghềnh với bao hình thù và sắc thái, với bao bộ mặt và tiếng động, xa gần ẩn hiện, nhiều trường hợp gay cấn nhất, oái oăm nhất được khắc hoạ trên quy mô và tầm vóc hoành tráng, đã làm tối ưu vai trò vị thuyền trưởng quả cảm tài hoa, thắng lợi những mưu mô xảo quyệt của thần Sông, thần Đá. Mưu trí quả cảm, quyết đoán làm ra khả năng cao nhòng của ông lái đò. Có những lúc con đò như một mũi tên tre “vút vút” xuyên qua hơi nước của trùng vi thạch trận. Có những lúc ông đã “nắm chặt cái bờm sóng”, nắm chắc lấy luồng nước, vút qua mọi cửa tử lao thẳng đến lối thoát hiểm,… Cũng có thể có trường hợp ông bị luồng nước “vô sở bất chí” đánh đến miếng đòn hiểm độc nhất, đôi thị giác nổ đom đóm hoa lên, nhưng ông lái đò vẫn tỉnh táo đưa con đò thoát hiểm!

Nguyễn Tuân không những tả ông lái đò trong lúc vượt thác băng ghềnh mà còn miêu tả ông sau một ngày giao tranh với thần Sông thần Đá, để làm tối ưu cái trầm tĩnh, sự thư thái ung dung của một vị thuyền trưởng lão luyện, dạn dày sông nước. Lúc ngừng chèo, đốt lửa trong hang đá, nướng ống cơm trắng lam, ông lái đò chỉ thủ thỉ “cá anh vũ, cá dầm xanh”, những hầm cá về ngày hè tiếng nổ to như mìn, bộc phá. Còn cái chuyện vượt thác so với ông chẳng có gì là hồi hộp, đáng nhớ.

Nguyễn Tuân là một nhà văn bậc thầy về từ ngữ. Tiếng thác nước được ông tả biến hóa, sinh động bằng một vốn từ ngữ phong phú kì lạ. Trên mặt ghềnh thác thì “nước xô đá, đá xô sóng, sóng xô gió”… Hút nước kêu “ặc ặc như rót dầu sôi vào”. Tiếng thác nghe từ xa vô cùng ghê rợn “như oán trách … như van xin…. như khiêu khích… giọng gằn mà chế nhạo”, có những lúc rống lên như đàn trâu mộng hàng nghìn con đang lồng lộn giữa rừng cháy!

Nguyễn Tuân đã sử dụng vốn hiểu biết sâu rộng về địa lí, lịch sử dân tộc, về quân sự, thể dục thể thao, về những môn nghệ thuật và thẩm mỹ như điện ảnh, âm nhạc, hội hoạ… cả tiếng lóng của nghề sông nước để tạo ra những đoạn văn đẹp, thú vị lạ. Nào là đòn tỉa đòn âm, đánh hồi lùng, phục kích, vu hồi. Nào là trùng vi thạch trận, boong ke, lối thoát hiểm, cửa tử, pháo đài… Nào là thanh viên, giáp lá cà, tiền vệ, hậu vệ tuyến giữa, tuyến hai… Chữ sử dụng thật đắt, lối đặt câu co duỗi dài ngắn, vừa phong phú và đa dạng, uyển chuyển, vừa thú vị.

Những từ tượng thanh, nhóm từ đồng nghĩa, những so sánh liên tưởng, lối nhân hóa… rất sáng tạo, mới mẻ, ý vị và hay. Hồ Xuân Hương viết: “Đâm toạc chân mây, đá mấy hòn” (“Tự tình”) hoặc “Hòn đá xanh rì lún phún rêu (“Đèo Ba Dội”). Bà Huyện Thanh Quan lại có câu thơ: “Đá vẫn trơ gan cùng tuế nguyệt – Nước còn cau mặt với tang thương”. Này là những vần thơ tuyệt bút viết vé đá mang tính chất hàm nghĩa. Nguyễn Tuân cũng có thể có những câu văn hay viết về đá, về thạch trận nơi sông Đà: “Phối phù hợp với đá, nước thác reo hò làm thanh viện cho đá những hòn đá bệ vệ oai phong lẫm liệt…”.

Nguyễn Tuân là một nhà văn uyên bác, tài hoa trong cách sử dụng vốn hiểu biết sâu rộng vẻ văn chương. Một câu thơ quốc tế, một câu cổ thi được ông sử dụng làm đề từ, đã mấy ai biết xuất xứ của nó? – Và đã tạo ra cốt cách sang trọng cho bài kí. Ông nói lại câu đồng dao để nói về huyền thoại Sơn Tinh – Thủy Tinh tranh giành người đẹp, để yêu thêm núi Tản sông Đà:

“Núi cao sông hãy còn dài,

Năm năm phục thù, đời đời đánh ghen”.

Tác giả mượn câu thơ Tản Đà để làm đẹp thêm cái thơ mộng của Đà giang:

“Dải sông Đà bọt nước lênh đênh

Bao nhiêu cảnh bấy nhiêu tình”.

Cảnh ngày xuân trên sông Đà cũng là cảnh đẹp hoa khói như con sông Trường Giang hơn nghìn năm về trước trong đời Đường lúc thi tiên Lý Bạch tiễn bạn Mạnh Hạo Nhiên đi Quảng Lăng: “Yên hoa tam nguyệt há Dương Châu”.

Nói về truyền thống cuội nguồn nhân vật của đồng bào Tây Bắc, nhà văn đang không quên chọn hai câu thơ của Nguyễn Quang Bích – bậc sĩ phu kiên cường chống Pháp cuối thế kỉ XIX – để mang vào bài kí:

“Lòng trung không nỡ bỏ Tây Châu,

Giữ lấy Thao Đà dải thượng lưu”.

Nhờ thế mà đọc bài kí “Người lái đò Sông Đà”, ta hiểu được nhiều điều có lợi về cảnh sắc thiên nhiên tự nhiên Tây Bắc, về địa lí, lịch sử dân tộc, về truyền thống cuội nguồn cách mạng của những dân tộc xung quanh con sông Đà, về hình thức, ghềnh sông, về tài nguyên Tổ quốc mênh mông, về những câu thơ đẹp – tinh hoa văn hóa truyền thống cổ kim Đông Tây mà Nguyễn Tuân lựa chọn đưa vào. Tâm hồn người như được nâng lên, trí tuệ được khơi dậy, bừng sáng và trở nên phong phú. “Người lái đò Sông Đà” đúng là một giai phẩm mà Nguyễn Tuân đã góp vào, làm đẹp thêm vườn hoa văn nghệ Việt Nam.

Ai đó đã từng đọc “Vang bóng một thời” chắc cảm nhận được cái tinh tế, tài hoa và lịch sự ở trong phòng văn Nguyễn Tuân lúc ông nói về chuyện uống trà, thưởng hoa, trồng cây cảnh, chơi chữ, đánh thơ, thả thơ, chơi đèn trung thu… của những nhà nho thuở trước, những thứ ăn chơi thanh trang, sang trọng, thể hiện một phong thái sống đẹp, xác định bạn dạng sắc của nền văn hóa truyền thống Việt Nam với độ dày hàng nghìn năm lịch sử dân tộc.

Đọc “Người lái đò Sông đà”, ta hiểu thêm một Nguyễn Tuân uyên bác, tài hoa, rất dị. Tả cảnh thì biến hóa, trong bốn mùa, trong mọi thời hạn và không khí, đa thanh và phức điệu lúc nói về thác, ghềnh… Bao liên tưởng đầy thi vị, với bao cảm hứng mạnh đầy màu sắc và góc cạnh với một kho chữ nghĩa phong phú. Văn của Nguyễn Tuân đúng là những giọt mật của con ong yêu hoa, cần mẫn và sáng tạo, đem thơm thảo cho đời. Câu văn xuôi tài hoa, lúc thì vang vọng âm ba của thác ghềnh, lúc thì mênh mang dư vị của hương nguồn hoa núi.

Đọc “Người lái đò Sông Đà” ta yêu thêm con người Việt Nam quả cảm, cần mẫn và tài hoa; ta tự hào về núi sông Tổ quốc nguy nga, tráng lệ. Sông Đà quả là quà tặng của thiên nhiên tự nhiên:

“Ôi những dòng sông bắt nước từ đâu

Mà lúc về đến Đất Nước mình thì bắt lên câu hát

Người đến hát – lúc chèo đò, kéo thuyền vượt thác

Gợi trăm màu trên trăm dáng sông xuôi”

Hình minh hoạ
Hình minh hoạ

3


Thai Ha

Bài xem thêm số 3

Nguyễn Tuân là nhà văn xuất sắc của nền văn học Việt Nam, ông có rất nhiều những tác phẩm hay và tối ưu lên là tác phẩm Người lái đò sông đà ông đã thể hiện được những phong thái nghệ thuật và thẩm mỹ tài tình của tớ trong tác phẩm đó.

Nguyễn Tuân đã rất tài hoa lúc thể hiện phong thái của tớ trong thể loại bút ký, bút ký này là những tâm huyết của ông vì vậy ông đã giành tâm huyết và cả những niềm đam mê của tớ vào thể loại này, ông đã chứng tỏ cho những người đọc những tài năng trong phong thái thơ ca của tớ, ông tài hoa bởi chất ký giàu chất suy tư chính vì sự, có sự xen kẽ giữa những yếu tố tạo ra một phong thái đẹp và thơ mộng, niềm tự hào của cả dân tộc bởi có một tài năng về bút ký như ông, ông đã tạo ra một phong thái nghệ thuật và thẩm mỹ kỳ diệu trong con người của tớ, với tài năng của tớ ông đã tạo ra một phong thái bút ký kỳ diệu và chỉ có ở ông mới có.

Với tình yêu thiên nhiên tự nhiên tổ quốc Nguyễn Tuân đã thể hiện lối viết phóng túng của tớ trong tùy bút người lái đò sông đà, một tình yêu mãnh liệt đã tạo cho ông rất nhiều cảm xúc để thăng hoa vẻ lên một bức tranh với vừa đủ màu sắc về sông đà, sông đà hiện lên với những tinh cách hung bạo, dưới ngòi bút của tớ Nguyễn Tuân đã thể hiện dòng sông đó với những tính cách rất phong phú và đa dạng, những nét khắc họa của tớ đã được thể hiện qua hình tượng sông đà và hình tượng người lái đò sông đà. Người đọc tưởng tượng được những vẻ đẹp đó qua lối viết linh hoạt, nó thể hiện sông đà với phong phú và đa dạng những màu sắc và tính cách có những lúc cũng dịu êm và lúc thì ầm ầm hung dữ như những con vật dữ, sông đà là minh chứng lịch sử dân tộc là loại sông hào hùng của dân tộc, dưới ngòi bút của tớ, Nguyễn Tuân đã tạo ra cho những người đọc những cảm xúc khó diễn tả ở hình tượng sông Đà.

Nguyễn Tuân đã phát hiện ra những vẻ đẹp của thiên nhiên tự nhiên trên mảnh đất của tớ, với tình yêu quê nhà da diết ông đã viết lên hình tượng sông đà thật phóng túng biết bao, với phong phú và đa dạng cảm xúc, chắc rằng ai đó đã từng đọc qua tác phẩm này cũng đều tự hào về phong thái viết phóng túng giàu sức truyền cảm của Nguyễn Tuân, ông là nhà văn tài ba có có sự tinh xảo trong việc cảm nhận những vẻ đẹp mà ẩn dấu bên trong rất nhiều những cảm xúc, cảm xúc của những con những người có tình yêu thương thiên nhiên tự nhiên thâm thúy. Sự tinh xảo trong phong thái cảm nhận thiên nhiên tự nhiên của tớ càng thêm phần làm cho phong thái của ông đậm nét qua những hình tượng rất dị và người đọc cảm thụ được trong đó một tác giả của tình yêu, với nét bút đậm đà những tài hoa và cả những tinh xảo, tác giả không chần chừ lúc vẽ lên những vẻ đẹp tài hoa đó.

Với những cảm xúc được thể hiện tùy hứng của Nguyễn Tuân đã tạo ra một sông đà với một vẻ đẹp khó theo dõi nhiều những trường hợp khiến cho người đọc khó quan sát nhanh nhạy được, văn của Nguyễn Tuân không thể hiện lên trên mặt phẳng câu chữ mà nó ẩn dấu dưới câu chữ những tài hoa và uyên bác, ông đã chứng tỏ cái ngông, cái chất văn chương của tớ tới fan hâm mộ, người đọc sẽ không còn thể bỏ qua một vị nhân tài trong lối tùy bút, ông đã thể hiện lối viết phong phú tới những vẻ đẹp hoàn mĩ, so với sông đà ông đã miêu tả sông đà với những hình ảnh thu hút đắm say lòng người sông đà được so sánh với những hình ảnh tuyệt vời thu hút lòng người bởi tài năng sử dụng phong thái của tớ trong thể loại tùy bút người lái đò sông đà.

Những nét kỳ diệu được lặp đi lặp lại, chúng ta đều mà thậm chí cảm nhận được những kỳ diệu nghệ thuật và thẩm mỹ đó, tác giả đã cảm nhận được cuộc sống thường ngày của người lao lực trải qua nhân vật người lái đò, ông đã nêu lên tinh thần kiêu dũng và kiên cường của người lái đò sông đà, với chất ngông của ông trước cách mạng tháng tám ông đã có những sáng tác mang đậm tính chất cá thể và những nét rất dị đó đã tạo lên phong thái nghệ thuật và thẩm mỹ của Nguyễn Tuân một cách kỳ diệu và tiêu biểu.

Với những tài năng của tớ Nguyễn Tuân đã thể hiện phong thái nghệ thuật và thẩm mỹ của tớ thật kỳ diệu trong tác phẩm với những nét bút tài hoa ông đã vẻ lên một con sông đà với bao nhiêu tính cách và chắc rằng người đọc tuyệt vời với hai tính cách tối ưu này là nét hung bạo và những lúc cũng dịu êm, dòng sông hiện lên trong thị giác người đọc hai trạng thái trái ngược nhau lúc dữ dội hung bạo thì sông đà đã cuộn sóng và làm cho những người đọc ngạc nhiên bởi khung cảnh thiên nhiên tự nhiên này, và đôi lúc tác giả còn thể hiện những nét dịu êm của những cô nàng Di Gan, hai tính cách điển hình nổi bật trong tùy bút người lái đò sông đà của Nguyễn Tuân. Tác giả còn vẻ ra hình tượng người lái đò cũng vô cùng hiên ngang và kiêu dũng đã vượt qua những luồng sóng vô hình để lái vững những chiếc thuyền đò trên đây là một trong những kỳ diệu nghệ thuật và thẩm mỹ của tác giả, với những tài năng đó Nguyễn Tuân đã tạo ra một tác phẩm để lại rất nhiều cảm xúc trong tâm người đọc.

Mỗi chúng ta nếu ai đó đã từng đào sâu và tìm hiểu về Nguyễn Tuân thì đều nhận thấy ông là một con người tài hoa và có một nhân cách cao đẹp ở ông không những nhìn nhận thấy một con người với tình yêu thiên nhiên tự nhiên lòng cháy mà con nhận thấy một con người với tài năng sử dụng chất ngông của tớ, sau cách mạng tháng tám ông đã càng chứng tỏ chất ngông của tớ, nhưng tình cảm mà Nguyễn Tuân thể hiện trong bài này cũng rất kỳ diệu lúc tác giả so sánh con sông đà như những áng tóc trữ tình …. Qua đó ta thấy được sự phong phú và đa dạng trong phong thái của Nguyễn Tuân, một con những người có cái nhìn đa chiều nhiều phương diện, đã nhìn sông đà không những ở một góc cạnh mà nhìn sông đà ở nhiều chiều nhiều mặt của một lối văn trữ tình.

Nguyễn Tuân nhà văn tài ba chúng ta phát hiện ông với một người giàu chất suy tư, tài năng của ông được ông thể hiện đậm nét qua hình tượng sông đà với áng tóc trữ tình thu hút lòng người.

Hình minh hoạ
Hình minh hoạ

4


Thai Ha

Bài xem thêm số 4

Nguyễn Tuân sẽ là một người người nghệ sỹ tài hoa và uyên bác, so với sự nghiệp văn chương ông có những nét kỳ diệu tiêu biểu riêng và mà thậm chí xác định không phải người người nghệ sỹ nào cũng có thể có. Đó đó là những vẻ đẹp trong phong thái nghệ thuật và thẩm mỹ, thật riêng lẻ và rất dị tiêu biểu trong phong thái sáng tác của ông tiêu biểu nó thể hiện qua tác phẩm “Người Lái Đò Sông Đà” .

Nguyễn Tuân với năng năng nghệ thuật và thẩm mỹ rất dị nhất nhì trong văn học Việt Nam văn minh. Ông là một người người nghệ sỹ tài hoa và cả đời của ông luôn luôn phấn đấu để đi tìm những điểm riêng lẻ những nét “khuất lấp” và những nét đẹp trong phong thái nghệ thuật và thẩm mỹ của tớ. Phần lớn những tác phẩm của ông thi đều thể hiện được sự uyên bác cũng như người tài hoa “chi phối những con chữ”. Trong bài tùy bút “Người lái đò sông đà” ông đã thể hiện rõ được phong thái riêng của tớ qua những điều đó. Có lẽ, bởi trên đây là bài mà ông rất tâm huyết và ông đã sử dụng chính tài năng và phẩm hạnh của tớ để sáng tác lên những tác phẩm đậm màu bi tráng này, dòng sông của người lái đò là loại sông mà ông đã quan sát và ông có cái nhìn thâm thúy về nó, nó không những là một dòng sông triệu chứng cho sức mạnh mẽ và tự tin của con người mà này là dòng sông của minh chứng lịch sử dân tộc. Với tài năng nghệ thuật và thẩm mỹ rất dị mang tính chất riêng lẻ ông đã tạo ra cho mình những sáng tác riêng và này là những sáng tác cổ xưa và mang biết bao dấu ấn mạnh mẽ và tự tin tác giả không những dừng chân ở trên đây để sở hữu những quan sát thấu đáo mà ông đã sử dụng những cảm xúc thật của tớ để viết lên bài thơ này.

Dường như hình ảnh của người lái đò sông đà đã được thể hiện rất sinh động và tài tình qua phong thái nghệ thuật và thẩm mỹ của ông, ông đã sử dụng những sáng tạo nghệ thuật và thẩm mỹ đó để áp vào cho những con người ở nơi trên đây, hình ảnh về dòng sông của quê nhà tổ quốc đã tạo ra những dâu ấn mạnh mẽ và tự tin trong tâm tác giả, ông đang thể hiện những điều đó rất tối ưu trong cách sáng tác của chính mình. Hình ảnh đẹp về dòng sông của quê nhà như đã thôi thúc tạo cho ông cảm hứng để viết lên bài tùy bút hay như vậy này. Tác giả như có phương án tạo tuyệt vời rất kỳ diệu qua cách reviews về dòng sông nó đã tạo ra những tuyệt vời mạnh mẽ và tự tin cho những người nghe, tác giả không khỏi tưởng tượng ra những cụ thể kỳ diệu khác thể hiện trong tác phẩm này. Những hình ảnh về dòng sông còn mang những tính cách của con người đời thực nhưng đã được nhìn qua lăng kính của Nguyễn Tuân nên mọi thứ đều trở lên trên xinh xắn và có phí phách riêng. Dòng sông Đà hiện lên dưới ngòi bút tò mò của ông cũng có những lúc hung bạo và cũng có những lúc trữ tình nó đã làm xoay chuyển mọi tính cách qua những thực trạng không giống nhau, hình ảnh về dòng sông cũng như về con người, tác giả đã miêu tả và quan sát dòng sông qua những tính cách điển hình nổi bật và tiêu biểu đó. Trong bài tùy bút thành công này của tác giả đã như đã thể hiện, bộc bạch rõ hàng loạt những cụ thể thể hiện dòng sông hung bạo này là có những vách đá ngăn thành chết lòng sông đà như một chiếc yết hầu..

Toàn bộ những cụ thể khác cũng thể hiện rõ điều đó dài hàng cây số nước xô đá, đá xô sóng, sóng xô gió, cuồn cuộn…, những cụ thể đó cứ như ngàn con trâu mộng đang lồng lộn giữa rừng vầu, rừng tre… hơn thế nữa những cụ thể đó đã thể hiện được hình ảnh về dòng sông quê nhà tổ quốc, tác giả đã sử dụng tài năng của tớ để sáng tác lên những hình ảnh hay và sinh động như vậy, hình ảnh đó thật mang dại và chính với thời gian làm việc và tài năng bậc thầy của tớ ông đã vẻ lên một hình ảnh về dòng sông với vẻ đẹp thật hùng vĩ, với cách so sánh sinh động đã tạo ra cho ông một bài tùy bút hay và nó để lại tuyệt vời thâm thúy trong tâm người đọc. Với cách so sánh ví von nhưng hợp tình và hợp lý như vậy hình ảnh về dòng sông cũng từng thể hiện rất cụ thể và kỳ diệu nó mang tuyệt vời cho những người đọc, bởi hàng loạt những hình ảnh tạo tuyệt vời riêng lẻ, hình ảnh về quê nhà của con người đã hiện lên những hình ảnh tuyệt đẹp và như ngày càng thu hút mạnh mẽ và tự tin tầm quan sát của người đọc, những hình ảnh trên cũng từng mang cho những người đọc những cái nhìn sâu rộng và nó trở thành một niềm tin sáng lóe trong cái nhìn của tác giả về chính thành phầm mà ông đã tạo ra.

Ông là một những người có trí tưởng tượng phải nói vô cùng phong phú, cũng có những lúc ông đã sử dụng những hình ảnh kĩ thuật của bộ môn nghệ thuật và thẩm mỹ thứ 7 – điện ảnh của tiếng động hội họa để thể hiện được những cụ thể tiêu biểu qua tác phẩm này, ông cũng nhân hóa những hình ảnh của dòng sông để miêu tả và mà thậm chí cảm nhận được tính cách hung bạo của dòng sông đó. Tưởng như những hình ảnh về dòng sông nó mang những dấu ấn mạnh mẽ và tự tin trong cách sáng tác của tác giả, những thác nhấp nhô và nó mang cho chúng ta cái nhìn thâm thúy hơn về những hình ảnh đó, hình ảnh của dòng sông đà đã được tác giả thể hiện sinh động và vô cùng tuyệt vời cho những người đọc, nó không những mạnh mẽ và tự tin trong đường khối mà nó cũng từng tạo ra những tính cách khác cho những người đọc, hình ảnh của dòng sông đã tạo ra những tuyệt vời mạnh mẽ và tự tin trong tâm tác giả bởi tính cách và những nét riêng lẻ mạnh mẽ và tự tin.

Những hình ảnh thật khó phai mờ về một dòng sông hoang dại và hung dữ cũng từng được thể hiện thâm thúy trong nhà văn, ông đã sử dụng tài năng của tớ để nói về những hình ảnh đó, cảm xúc ở trong phòng văn cũng thật thâm thúy và sinh động lúc ông nói về cảm xúc của chính mình và dòng sông đó đã mang dại và chúng ta tìm thấy tài năng của tác giả được thể hiện mạnh mẽ và tự tin trong đó, Nguyễn Tuân như đã ca tụng dòng sông này và nó hiện lên thật rất dị và sinh động, tính cách của dòng sông này là dòng sông trữ tình và yêu thương nó đã hiện hữu trong con người của tác giả. Lân cận hình ảnh dòng sông hung dữ thì hình ảnh của dòng sông hiền hòa cũng rất được tác giả thể hiện thâm thúy trong bài tùy bút này, dòng sông được tác giả miêu tả như người đàn bà có mái tóc dài, màu sắc cũng rất được thay đổi kỳ diệu trong bài thơ, với những nét phong phú và kỳ diệu của bài thơ tác giả đã thể hiện được những cụ thể kỳ diệu và mang những dấu ấn mạnh mẽ và tự tin trong tâm của tác giả.

Mà thậm chí nói nghệ thuật và thẩm mỹ xây dựng hình tượng người lái đò của tác giả Nguyễn Tuân đã điển hình nổi bật và nó thể hiện những không khí hào hùng và man dại trong cái nhìn ở trong phòng văn, Nguyễn Tuân là nhà văn đã biết và tận dụng tốt những hình ảnh, cụ thể để tạo lên hình tượng của dòng sông qua những cụ thể thật và không khí hiện lên cũng mang rợ và có những tuyệt vời thâm thúy và vang nhộn. Những hình ảnh về một dòng sông có những cụ thể rất kỳ diệu và nó đúng với không khí và cụ thể mà tác giả đã và đang sử dụng ở trên đây. Với cái nhìn đầy chứa đựng đầy thiện cảm và nó đã tạo ra những thâm thúy riêng trong con thị giác nhìn của tác giả về cái nhìn và cách quan sát của tác giả cũng thật toàn vẹn và như nó đang mang những dấu ấn mạnh mẽ và tự tin và trang nghiêm, những cụ thể tuyệt vời mà tác giả thể hiện trong tác phẩm này là tác giả đã miêu tả rõ ràng và cụ thể và hình tượng tiêu biểu của tác giả về những hình ảnh đó, hình ảnh về quê nhà và với tình yêu quê nhà thắm thiết đã tạo ra cho tác giả cái nhìn thâm thúy hơn, ông đã miêu tả dòng sông qua con thị giác thấu đáo của tớ.

Với những tài năng không thể phủ nhận và nghệ thuật và thẩm mỹ sử dụng từ ngữ ông đã thể hiện rất nhiều những câu văn nhẹ nhàng và nó đã thể hiện một tình cảm đặc trưng của tác giả so với dòng sông đà, dưới ngòi bút thần của tác giả thì hình ảnh đó trở lên trên thật mĩ lệ và không tồn tại gì sánh bằng. Mà thậm chí nói những hình ảnh về thiên nhiên tự nhiên cũng rất được tác giả thể hiện sinh động và hình ảnh về người lái đò sông đà cũng rất được thể hiện rất cụ thể và kỳ diệu nhà văn đã ví thiên nhiên tự nhiên Tây Bắc như một thứ vàng mười, và nó thật quý giá trong con thị giác nhìn người và cách quan sát của tác giả về những cụ thể tối ưu đó.

Tài năng và nghệ thuật và thẩm mỹ sử dụng từ ngữ hết sức phong phú cũng như đậm màu tài hoa của tớ thì nó đã mang cho tác giả một chiếc nhìn toàn vẹn hơn về phong thái sáng tác ở trong phòng văn, nhà văn không những mang một vẻ đẹp của người người nghệ sỹ tài hoa mà ông còn mang những vẻ đẹp của một những người có cái nhìn đời thâm thúy.

Hình minh hoạ
Hình minh hoạ

5


Thai Ha

Bài xem thêm số 5

Nguyễn Tuân là nhà văn tài giỏi tạo dựng không khí, mang lại cho tác phẩm bằng nghệ thuật và thẩm mỹ miêu tả một sự sống động như sự việc đang ra mắt thật, lối thuật kể đầy kịch tính, mạch văn dồn dập, từ ngữ biến hoá làm cho những người đọc thấy lôi cuốn, thú vị có cảm hứng như đang trực tiếp tận mắt chứng kiến sự việc. Nhà văn đã thể hiện một cách tài hoa toàn bộ những tâm, trí, lực, toàn bộ sự điêu luyện, tinh xảo nhà nghề của người lái đò. Theo Nguyễn Tuân, chỉ có thứ huân chương lao lực siêu hạng của cuộc sống thường ngày tặng cho ông đò mới thực sự xứng đáng (dấu tròn ở ngực).

Trong thiên tùy bút, tác giả đã sử dụng những phương pháp nghệ thuật và thẩm mỹ nào để khắc họa một cách ẩn tượng hình ảnh con sông Đà hung bạo?

Tìm về sông Đà, Nguyễn Tuân trước hết phát hiện ở con sông vẻ đẹp hung bạo, dữ dội. Đoạn văn trích triệu tập miêu tả cái hung bạo của con sông qua cảnh thác nước và trận địa đá trên sông Đà. Cảnh đá bờ sông dựng vách thành: Mặt sông quảng ấy lúc đúng ngọ mới thấy mặt trời (so sánh: vách đá chẹt lòng sông như một chiếc yết hầu; quan sát tưởng tượng: {khoảng cách} nhẹ nhàng tưởng như đứng từ bờ này ném nhẹ hòn đá sang bờ bên kia… Những cảm hứng tác giả muốn truyền cho những người đọc rất tuyệt vời: ngồi trong khoang đò quãng ấy, ngày hè cũng cảm thấy lạnh, nhà văn nói nét đẹp, cái tối của vách đá bờ sông để tôn vinh sự hùng vĩ hiểm trở của sông Đà quãng lòng sông hẹp…). Tác giả đã sử dụng phương pháp tô đậm, cường điệu.

Lúc miêu tả ghềnh sông, Nguyễn Tuân sử dụng cấu trúc câu trùng điệp nước xô đá, đá xô sóng, sóng xô sóng, cuồn cuộn lòng gùn ghè suốt năm như đòi nợ xuýt ngẫu nhiên người lái đò nào qua trên đây. Tác giả sử dụng phương pháp vừa cường điệu vừa nhân hóa.

Đoạn miêu tả những hút nước trên sông được Nguyễn Tuân tái hiện những cảm hứng mạnh giành riêng cho kỹ xảo điện ảnh… Toàn bộ chứng tỏ thời gian làm việc quan sát và sự tưởng tượng, liên tưởng tuyệt vời. Ở trên đây tác giả sử dụng phương pháp so sánh, thể nghiệm…

Đoạn miêu tả “thác nước” và “thạch trận” sông Đà. Tiếng động dữ dội, đầy những tiếng réo gào. “Còn xa lắm mới đến cái thác dưới. Nhưng đã thấy tiếng nước réo, gần mãi lại réo to mãi lên”. Tiếng thác được ví như tiếng rống của “một ngàn con trâu mộng đang lồng lộn giữa rừng vầu tre nứa nổ lửa, đang phá tuông rừng lửa, rừng lửa cùng gầm thét với đàn trâu da cháy bùng bùng”. Người đọc mà thậm chí cảm nhận được sự lồng lộn, khó tính của con sông qua một thứ ngôn từ có sức nóng, có màu sắc. Tác giả đã sử dụng phương pháp so sánh.

Hình ảnh: “Sóng bọt trắng xóa cả một chân trời đã’ cho thấy sự mịt mùng của sóng nước. Đá: ngàn năm mai phục, lúc con thuyền tới thì chồm cả dậy, vồ lấy thuyền, mặt hòn nào thì cũng ngỗ ngược, nhăn nhúm, méo mó đến dữ tợn; đá bày “thạch trận”, sông Đà đã giao việc cho từng hòn với đá tướng, đá quân, những tường vây mà sóng nước tạo ra chỉ chờ con thuyền sơ hở để mang vào cửa tử chết người… Nước: reo hò vang dậy, làm thành viên đá để bẻ gãy cán chèo vũ khí trên tay ông đò, đánh đến mòn đòn độc hiểm. Lúc đương đầu, sông tích tắc sáng lên như một cửa bể đom đóm rừng sà xuống mà châm lửa vào đầu sóng làm hoa thị giác. Trong cả lúc đã thua thì mặt những hòn đá cũng hết sức đáng sợ: cái mặt xanh lè vì thất vọng.

Tóm lại, bằng những phương pháp nhân hoá, so sánh, tô đậm, phối phù hợp với việc sử dụng từ ngữ giàu chất tạo hình, gợi hình, những liên tưởng kỳ thú, táo bạo, thời gian làm việc vận dụng tổng hợp kỹ năng của nhiều ngành nghề, nhiều nghành nghề: nghệ thuật và thẩm mỹ, võ thuật, quân sự những câu văn có sức nén, sức dồn, độ căng, độ giãn đã giúp Nguyễn Tuân khắc họa một cách tuyệt vời về một con sông hung bạo, người đọc mà thậm chí tưởng tượng sông Đà như có một linh hồn, một thứ thiên nhiên tự nhiên mà có nhiều lúc như Nguyễn Tuân nói: trông nó ra thành “diện mạo và tâm địa một thứ quân địch số một” của con người Tây Bắc, gợi liên tưởng tới câu đồng dao về thần sông, thần núi trong truyện cổ:

Núi cao sông hãy còn dài

Năm năm phục thù, đời đời đánh ghen

Ở trên đây người đọc vẫn nhận ra “chất Nguyễn” (tức phong thái riêng của Nguyễn Tuân) trong nhân vật của Nguyễn Tuân: có chút gì đó hơi khinh bạc tài tử. Như vậy, chính cái hùng vĩ, dữ dội của sóng, thác, nước Đà là yếu tố tôn ông lái đò lên hàng “oai phong tối thượng”. Này là ĐK để nhân vật Nguyễn Tuân thể hiện những ngón nghề của tớ. Thiên nhiên tự nhiên Tây Bắc xinh xắn, kỳ thú, những con người Tây Bắc thực sự là thứ “vàng mười” của tổ quốc, tài hoa như vậy mới “trị” được con sông này, bắt nó phục vụ cho cuộc sống thường ngày của tớ.

Hình minh hoạ
Hình minh hoạ

6


Thai Ha

Bài xem thêm số 6

Nguyễn Tuân là cây bút tài hoa, uyên bác, cả đời say mê tìm kiếm vẻ đẹp của cuộc sống thường ngày. Ông có sở trường về thể loại tuỳ bút. “Người lái đò sông Đà” là tập tùy bút xuất sắc của nguyễn Tuân. Tác phẩm đã khắc hoạ vẻ đẹp phong phú và đa dạng vừa hung bạo vừa trữ tình của con sông Đà và ca tụng người lái đò giản dị mà kỳ vĩ trên dòng sông. Thêm phần làm ra thành công của “Người lái đò sông Đà” đó là lớp từ ngữ giàu giá trị tạo hình và biểu cảm mà Nguyễn Tuân đã công phu rèn giũa.

Với thiên tùy bút “Người lái đò sông Đà”, Nguyễn Tuân tiếp tục sử dụng tài hoa của tớ trong việc link giữa quá khứ, hiện tại và tương lai. Trong tâm thế của con người sau Cách Mạng ấy, sự đối lập dần được thay thế, nhường chỗ cho cho sự con người ôn hòa, thoải mái hơn. Để làm được điều này, sự góp mặt của những yếu tố Hán Việt là điều không thể thiếu.

Qua cảm nhận của Nguyễn Tuân, chất thơ của phong cảnh sông Đà thường đậm đà màu sắc cổ xưa: “Thuyền tôi trôi trên sông Đà. Cảnh ven sông ở trên đây lặng tờ. Hình như từ đời Lí, đời Trần, đời Lê, quãng sông này cũng lặng tờ đến thế mà thôi. Thuyền tôi trôi qua một nương ngô nhú lên mấy lá ngô non đầu mùa. Mà tịnh không một bóng người. Cỏ gianh đồi núi đang ra những nõn búp. Một đàn hươu cúi đầu ngốn búp cỏ gianh đẫm sương đêm. Bờ sông hoang dại như một bờ tiền sử. Bờ sông hồn nhiên như một nỗi niềm cổ tích tuổi xưa. Chao ôi, thấy thèm được giật mình vì một tiếng còi xúp lê của một chuyến xe lửa trước hết đường sắt Phú Thọ – Yên Bái – Lai Châu. Con hươu thơ ngộ ngẩng đầu nhung khỏi áng cỏ sương, chăm chăm nhìn tôi lừ lừ trôi trên một mũi đò. Hươu vểnh tai, nhìn tôi không chớp thị giác mà như hỏi tôi bằng những tiếng nói riêng của con vật lành: “Hỡi ông khách sông Đà, có phải ông cũng vừa nghe thấy một tiếng còi sương?”. Mà thậm chí gọi đấy là những dòng thơ văn xuôi đập chất cổ xưa ở trong phòng tùy bút.

Việc sử dụng từ ngữ Hán Việt trong số tác phẩm thuộc những thể loại của Nguyễn Tuân trước hết xuất phát từ yên cầu của đối tượng người dùng được miêu tả. Do viết về đề tài “vang bóng” những nhân vật đó là nho sĩ nên từ ngữ Nguyễn Tuân trong “Chữ người tử tù” rất cổ kính, bác học. Viết về cuộc sống thường ngày của những con người tài tử, tài hoa một thời vang bóng, về luật hình phong kiến, về thú chơi chữ, thả thơ, hát ả đào,… thì lớp từ Hán Việt tất nhiên là đắc địa. Ngoài ra, từ ngữ Hán Việt còn thêm phần tạo ra âm hưởng đặc trưng cho lời văn Nguyễn Tuân. Ấy là cái âm hưởng vừa văn minh, vừa đĩnh đạc cổ kính, đọc lên đã cảm thấy không lẫn với giọng điệu của bất kì nhà văn nào.

Những từ ngữ ấy được Nguyễn Tuân sử dụng một cách thuần thục, linh hoạt, tạo âm vang ngàn xưa vọng lại – âm vang của một thời xa vắng. Trong “Người lái đò sông Đà”, người đọc được thưởng thức một loạt ngôn từ mới mẻ, sáng tạo, mang bạn dạng sắc riêng: “lặng tờ, bờ tiền sử, nỗi niềm cổ tích, thơ ngộ…”. Nhà văn thực sự là một ông lái tài hoa trên dòng sông từ ngữ. Những câu văn Nguyễn Tuân giàu nhạc điệu, co duỗi uyển chuyển. Nhạc điệu trầm bổng, đưa người đọc đến với cái yên ả của dòng sông đà nơi hạ lưu: “Dòng sông quãng này lững lờ như thương nhớ những hòn thác đá xa xôi để lại trên thượng nguồn Tây Bắc. Và con sông như đang lắng nghe những giọng nói êm êm của người xuôi, và con sông đang trôi những con đò mình nở chạy buồm vải no khác hoàn toàn những con đò đuôi én thắt mình dây cổ xưa dòng trên”.

Ở Nguyễn Tuân, ta còn phát hiện hai thao tác ngỡ xích míc mà thực ra là thống nhất: sử dụng từ ngữ chuyên biệt, đúng mực tuy nhiên tuy nhiên với hình thức diễn đạt kiểu lạ hóa.

Thao tác thứ nhất, Nguyễn Tuân lựa chọn những từ ngữ thật đích đáng để gọi sự vật đúng tên của nó, đặc tả sự vật đúng tính chất của nó. Ví dụ điển hình, lúc miêu tả thác nước sông Đà, thoạt tiên là, tác giả gọi những “hút nước” ở sông Đà là những “cái giếng sâu”, gọi “thiên nhiên tự nhiên Tây Bắc” là “thứ quân địch số một”, gọi “mặt trận sông Đà” là “quãng thuỷ chiến ở mặt trận sông Đà” Thay cho việc sử dụng từ “trận đá” bằng từ “thạch trận”. Tiếp đó, nhà văn sử dụng tri thức về âm nhạc với bạn dạng hợp âm náo loạn, kinh khiếp của thác dữ: “Nước ở trên đây thở và kêu như cửa cống cái bị sặc”, “nước ặc ặc lên như vừa rót dầu sôi vào”, “Tiếng nước thác nghe như là oán trách gì, rồi lại như là van xin, rồi lại như là khiêu khích, giọng gằn mà chế nhạo. Thế rồi nó rống lên như tiếng một ngàn con trâu mộng đang lồng lộn giữa rừng vầu, rừng tre nứa nổ lửa”…

Những cách ví von mới lạ, rất dị cùng từ ngữ giàu tính biểu cảm, giàu sức gợi và nhịp điệu câu văn nhanh, gấp, đã tác động mạnh vào tâm trí người đọc, liên tục đẩy tiếng động thác dữ đến hồi cao trào, quyết liệt nhất, để rồi, lúc toàn bộ đã qua đi, người ta có cảm hứng đầu óc mình đã căng quá độ, giờ đây thừ ra nghe “Sóng thác xèo xèo tan trong trí nhớ”. “Sông nước lại thanh thản”.

Nếu như vẽ một chiếc biểu đồ tần số tiếng động sông Đà thì ta đã có một đường lên rất cao rồi đột ngột trở về với thanh ngang ghi âm của biểu đồ. Thoạt tiên là tri thức về âm nhạc với bạn dạng hợp âm náo loạn, kinh khiếp của thác dữ: “Nước ở trên đây thở và kêu như cửa cống cái bị sặc”, “nước ặc ặc lên như vừa rót dầu sôi vào”, “Tiếng nước thác nghe như là oán trách gì, rồi lại như là van xin, rồi lại như là khiêu khích, giọng gằn mà chế nhạo. Thế rồi nó rống lên như tiếng một ngàn con trâu mộng đang lồng lộn giữa rừng vầu, rừng tre nứa nổ lửa”…

Tuy vậy hành với tiếng động sóng động là lớp hình ảnh phong phú và đa dạng, phong phú. Bằng vốn hiểu biết phong phú về hội họa và điêu khắc, cùng trí tưởng tượng rất dị và óc quan sát tinh tế được diễn tả bằng vốn từ ngữ phong phú, điêu luyện, giàu giá trị tạo hình, nhà văn đã giúp ta mường tượng về độ cao hun hút khôn cùng của “đá bờ sông dựng vách thành” gợi lên nét hùng vĩ, hoang sơ, và cả sự ghê rợn nữa. Nhất là lúc “chẹt lòng sông Đà như một chiếc yết hầu” thì sức nước hẳn phải ghê gớm, dữ dằn lắm! Cách so sánh, liên tưởng mới mẻ, bất thần của Nguyễn Tuân quả khiến cho người đọc cũng “thấy lạnh” như đang ngồi chung qua quãng ấy với Nguyễn Tuân vậy. Vài nét vẽ mà thật giàu sức gợi, từ ngữ của Nguyễn Tuân cũng góc cạnh, sắc nét như những đường chạm trổ của người thợ tài hoa.

Thao tác thứ hai, Nguyễn Tuân luôn luôn tìm kiếm những hình thức diễn đạt rất khác thường. Ông rất công phu trong việc ghép từ, hoặc thay thế một từ thông dụng bằng từ ngữ lạ hoắc, gây kinh ngạc cho những người đọc. Những từ ngữ được lạ hoá như: “thanh viện” (hỗ trợ bằng tiếng động), “thanh la, não bạt” (nhạc cụ bộ gõ bằng đồng tạo tiếng động mới lạ), “đánh hồi lùng” (đánh dồn dập), “đòn âm” (đòn ngầm), “trùng vi” (vòng vây nhiều lớp), “tế mạnh” (phi mạnh, lao mạnh)…

Hình thức diễn đạt kiểu lạ hóa đã được Nguyễn Tuân đẩy đến mức cao hơn lúc trước một đối tượng người dùng cần miêu tả, ông sử dụng đồng thời cùng lúc vô số cách thức định danh, nhằm mục tiêu nói cho kiệt cùng mọi sự cảm nhận của tớ. Nguyễn Tuân thuộc số những cây bút đặc trưng chú trọng hình thức câu văn. Điều này thể hiện rõ ở sự gia công của ông về phong thái kết cấu câu cũng như về những phương pháp tu từ trong câu. Nếu kết cấu câu thời kì trước Cách Mạng trong văn ông thích nghi với giọng điệu cổ kính trang nghiêm, thì với thời kỳ sau Cách Mạng câu văn cầu kỳ, nhiều lúc dài hơi, trau chuốt hơn thích nghi với đậm chất cá tính phô bày tri thức của tớ và tài sử dụng chữ.

Câu văn của Nguyễn Tuân thường xuyên có Xu thế phức hóa. Bất kì thành phần nào đó trong câu văn của ông cũng đều mà thậm chí được phát triển một cách đơn giản và dễ dàng. Ông mang trong mình cái giọng kể khoan thai trong những thiên truyện, giọng giãi bày miên man trong những thiên tùy bút, giọng phân tích, phẩm bình tỉ mỉ kiểu “chẻ sợi tóc làm tư” trong số nội dung bài viết về văn học nghệ thuật và thẩm mỹ.

Sự chau chuốt trong câu văn Nguyễn Tuân không những thể hiện ở bình diện cấu trúc mà còn ở mặt tu từ. Nói cách khác, yêu cầu về tu từ đã được đáp ứng nhu cầu bằng những Điểm sáng của cấu trúc. Những phương pháp và phương tiện được nhà văn sử dụng thường tạo cho câu văn phải dãn ra, trổ nhiều cành nhánh rậm rạp, với những tầng bậc không giống nhau và đạt hiệu suất cao thẩm mỹ và làm đẹp rõ rệt.

Trong những phép tu từ, thì sóng đôi cú pháp, điệp, giải nghĩa, tách câu là những phương pháp được Nguyễn Tuân ưa sử dụng hơn cả. Có những kiểu tu từ dễ kéo câu văn trở về kiểu dữ dương biền ngẫu cũ kĩ một thời, (ví như phép sóng đôi cú pháp), nhưng Nguyễn Tuân vẫn sử dụng một cách thoải mái, và bằng sự cao tay của tớ, ông viết nên những câu văn uyển chuyển cân đối mà vẫn rất văn minh. Ví dụ điển hình, miêu tả tiếng động thác nước, ông tưởng tượng: “Tiếng nước thác nghe như là oán trách gì, rồi lại như là van xin, rồi lại như là khiêu giọng gằn mà chế nhạo”; “Có chỗ vách đá thành chẹt lòng sông Đà như một chiếc yết hầu. Đứng bên này bờ nhẹ tay ném hòn đá qua bên kia vách. Có quãng con nai con hổ đã từng vọt từ bờ này sang bờ kia”.

Có những phép tu từ tưởng chỉ thích nghi với kiểu câu văn lý luận đậm tính duy lí của ngữ pháp châu Âu (ví như phép giải ngữ), vậy mà, qua bàn tay Nguyễn Tuân, chúng bỗng phát huy hiệu suất cao bất thần trong việc tạo ra âm giọng điệu đặc trưng cho lời văn: “Tôi sợ hãi người theo dõi, đã quả cảm dám ngồi vô một chiếc thuyền thúng tròn vành rồi cho tất cả thuyền cả mình cả máy quay xuống đáy cái hút sông Đà – từ đáy cái hút nhìn ngược lên vách thành hút mặt sông chênh nhau tới một cột nước cao đến vài sải”. Câu văn trổ nhánh rậm rạp ở trên đây mà thậm chí kể tới: “Lại như quãng mặt ghềnh Hát Loóng, dài hàng cây số nước xô đá, đá cô sóng, sóng xô gió, cuồn cuộn luồng gió gùn ghè suốt năm như lúc nào thì cũng đòi sợ suýt bắt người lái đò sông Đà nào tóm được qua đấy”. Hay: “Không thuyền nào dám men gần những cái hút nước ấy, thuyền nào qua cũng trèo nhanh để lướt quãng sông, y như là ô tô sang số nhấn ga cho nhanh để vút qua một quãng đường mượn cạp ra ngoài bờ vực. Chèo nhanh và tay lái cho vững mà phóng qua cái giếng sâu, những cái giếng sâu nước ặc ặc lên như vừa rót dầu sôi vào.”

Tóm lại, cả về mặt cấu trúc và phương diện tu từ cú pháp, Nguyễn Tuân đã thể hiện nhiều khổ công tìm tòi, sáng tạo. Câu văn của ông vừa cho thấy dấu vết của một trong suốt lộ trình: ấy là trong suốt lộ trình văn minh hóa của câu văn quốc ngữ, vừa phản ánh khá rõ ràng những Điểm sáng phong thái từ ngữ của một cá thể.

Nói đến việc những tìm tòi, sáng tạo của Nguyễn Tuân về từ ngữ, không thể không đề cập nghệ thuật và thẩm mỹ so sánh kỳ diệu của ông. Về lượng, câu văn so sánh trong số văn bạn dạng thuộc mọi thể loại của Nguyễn Tuân có tỉ lệ cao một cách khác thường so với tác phẩm của những tác giả trong cùng bối cảnh văn học. Nhưng điều đáng nói hơn là hiệu suất cao nghệ thuật và thẩm mỹ của phép tu từ so sánh trong lời văn Nguyễn Tuân. Hiệu suất cao này còn có được là nhờ những tìm tòi không mệt rũ rời ở trong phòng văn về cấu trúc so sánh, về từ chỉ quan hệ so sánh, và nhất là hình ảnh sử dụng để so sánh. Săn tìm những hình ảnh dị thường, ít ai nghĩ tới, làm cho từng câu văn so sánh thực sự là một kết quả tò mò, thể hiện một chiếc nhìn khác lạ về đối tượng người dùng, này là những thao tác thường thấy ở Nguyễn Tuân.

Thao tác này được nhà văn sử dụng rộng thoải mái ở mọi thể loại, mọi mức độ sáng tác. Vì vậy, thật khó mà thấy được sự khác lạ nghệ thuật và thẩm mỹ so sánh của câu văn trong truyện, trong tùy bút hay trong phê bình, chân dung văn học của ông. Mà thậm chí nói, nghệ thuật và thẩm mỹ so sánh trong “Người lái đò sông Đà” không những đơn thuần tạm dừng ở việc so sánh sự vật này với sự vật khác mà còn mang cả dấu ấn phong thái riêng của Nguyễn Tuân, hàm chứa những cái nhìn rất dị, tài hoa, tinh xảo: ông đã diễn tả đoạn sông bị chẹt giữa hai vách đá dựng thành cao vút “ngồi trong khoang đò qua quãng ấy, đang ngày hè mà cũng thấy lạnh, cảm thấy mình như đứng ở hè một chiếc ngõ mà ngóng vọng lên một khung cửa sổ nào trên những tầng nhà thứ mấy nào vừa tắt phụt đèn điện”; “nước ở trên đây thở và kêu như cái cống bị sặc”; “cái phim ảnh thu được trong tâm giếng xoáy tít đáy, truyền cảm lại cho những người xem phim ký sự thấy mình đang lấy gân ngồi giữ chặt như ghì lấy mép một chiếc lá rừng bị vứt vào một chiếc cốc pha lê nước khổng lồ vừa rút lên cái gậy đánh phèn”; “mặt sông rung tít lên như tuyếc-bin thuỷ điện nơi đáy hầm đập”;…

Sự liên tưởng kỳ diệu nhất trong “Người lái đò sông Đà” nằm tại chính những trận chiến trên sông Đà. Với thạch trận mà sông đà hung bạo giăng ra để chặn đánh người lái đò, này là: “hàng tiền vệ, có hai hòn canh một cửa đá trông như là sơ hở, nhưng chính hai đứa giữ vai trò dụ cái thuyền đối phương đi vào sâu nữa, vào tận tuyến giữa rồi nước sóng luồng mới đánh khuýp quật vu hồi lại… Thạch trận dàn bày vừa xong thì cái thuyền vụt tới. Phối phù hợp với đá, nước thác reo hò làm thanh viện cho đá, những hòn đá bệ vệ oai phong lẫm liệt, một hòn ấy trông nghiêng thì y như là đang hất hàm hỏi cái thuyền phải xưng tên tuổi trước lúc giao chiến. Một hòn khác lùi lại một chút và thử thách cái thuyền có tốt thì tiến vào”

Dưới ngòi bút Nguyễn Tuân, con thủy quái sông Đà không những hung hãn mà nó còn hết sức xảo quyệt. Trong cuộc vật lộn với ông lái đò, nó đã trổ ra đủ mưu ma chước quỷ để lừa người ta vào thế trận đã bày sẵn và hướng người ta vào cửa tử. Chỗ ngoặt sông thì đánh phục kích. Dụ được vào sâu thì đánh khuýp vu hồi. Giáp lá cà thì giở đủ ngón hiểm nghèo: đòn âm, đòn dương, đá trái, thúc gối, túm thắt sườn lưng, lật nửa người, bóp chặt hạ bộ,… vừa đánh vừa hò la vang trời dậy đất để áp đảo tinh thần đối phương.

Sự liên tưởng được tiếp nối sang thứ tính cách thứ hai của sông Đà: trữ tình. Nó “tuôn dài như một áng tóc trữ tình, đầu tóc chân tóc ẩn hiện trong mây trời Tây Bắc bung nở hoa ban hoa gạo”… Cái nhìn lãng mạn và lối so sánh, liên tưởng đầy sở trường đó vẫn vẹn nguyên lúc ông phát hiện con sông Đà “tuôn dài, tuôn dài như áng tóc trữ tình, đầu tóc chân tóc ẩn hiện trong mây trời Tây Bắc bung nở hoa ban hoa gạo tháng hai và cuồn cuộn khói núi Mèo đốt nương xuân”.

Mà thậm chí xác định, về phương diện nghệ thuật và thẩm mỹ, tùy bút “Người lái đò sông Đà” ở trong phòng văn Nguyễn Tuân đạt đến trình độ điêu luyện. Mỗi chữ, mỗi câu đều được trau chuốt cong phu đến kinh ngạc. Qua đó, ta thấy được tài hoa, vốn văn hoá uyên thâm và phong thái nghệ thuật và thẩm mỹ rất dị của Nguyễn Tuân. Đồng thời cùng lúc ta còn thấy được cảm hứng ngợi ca, tự hào về chất vàng thiên nhiên tự nhiên, về giang sơn gấm vóc Việt Nam của tác giả.

Hình minh hoạ
Hình minh hoạ

Mà thậm chí xác định, về phương diện nghệ thuật và thẩm mỹ, tùy bút “Người lái đò sông Đà” ở trong phòng văn Nguyễn Tuân đạt đến trình độ điêu luyện. Mỗi chữ, mỗi câu đều được trau chuốt cong phu đến kinh ngạc . Qua đó, ta thấy được tài hoa, vốn văn hoá uyên thâm và phong thái nghệ thuật và thẩm mỹ rất dị của Nguyễn Tuân. Đồng thời cùng lúc ta còn thấy được cảm hứng ngợi ca, tự hào về chất vàng thiên nhiên tự nhiên, về giang sơn gấm vóc Việt Nam của tác giả.

Related Articles

Trả lời

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai.

Back to top button