Toplist

Top 13 loài động vật sắp tuyệt chủng tại Việt Nam

Hiện tại ở Việt Nam có một vài loại động vật đang trong trạng thái báo động đỏ, vì nạn săn bắn, mua bán trái phép, ngoài ra còn do đổi khác khí hậu làm mất đi hệ sinh thái. Cùng toplist điểm danh lại những loài động vật đó và có hướng bảo vệ những sinh vật ít ỏi sót lại.

1


Riaka Akira

Bò tót

Bò tót (mang tên khoa học là Bos gaurus) là động vật thuộc bộ Guốc chẵn (Artiodactyla), họ Trâu bò (Bovidae) có lông màu sẫm và kích thước lớn, sinh sống cơ bản ở vùng đồi của Ấn Độ và Khu vực Đông Nam Á. Tên thường gọi khác của bò tót là bò rừng Mã Lai hay bò rừng bizon Ấn Độ. Bò tót ở Việt Nam được xếp vào nhóm bò tót Đông Dương hay bò tót Khu vực Đông Nam Á (mang tên khoa học là Bos gaurus laosiensis hay Bos gaurus readei) được sách đỏ trái đất xếp vào nhóm động vật rất hiếm loại 1B, bảo tồn ở mức sắp nguy cấp.

Giống bò to nhất trong họ nhà bò, với chiều cao mà thậm chí lên tới 2m, nặng gần 2 tấn. Đầu to, trán dẹt hơi lõm, có đốm lông trắng trên trán, đỉnh trán giữa hai sừng nhô cao. Sừng to khoẻ cân đối, uốn cong lên phía trên tạo vòng cung hình bán nguyệt, mút sừng nhọn đen bóng. Gốc sừng màu vàng xám, mút sừng nhọn đen bóng. Lớp da ở cổ và trước ngực không tạo thành yếm. Bộ lông mềm ngắn mượt màu nâu thẫm hoặc đen xám hơi phớt xanh bóng ở sườn lưng. Lông ở bụng dài màu nâu nhạt. Con cái thường xuyên có màu hung đỏ, bốn chân từ khoeo trở xuống white color bẩn. Đuôi dài màu đen. không mong muốn phía trên cũng là giống bò bị tàn sát nhiều nhất.

Nơi sinh sống của bò tót là rừng già thường xanh, rừng khộp, rừng hỗn giao tre nứa, rừng thứ sinh địa hình tương đối bằng ở độ cao 500 – 1500m so với mặt biển. Sống thành từng đàn 5 – 10 con (có đàn tới 20 – 30 con) đôi lúc cũng gặp những cá thể sống đơn lẻ lẫn với đàn bò rừng. Hiện tại ở Việt Nam chỉ với khoảng 300 con, phân bố tại những vườn vương quốc ở Lào Cai, Kon Tum, Lâm Đồng. Những đàn bò này đang đứng trước tác hại diệt vong vì rừng bị tàn phá nặng nề, nạn săn bắn lậu ra mắt liên tục. Loại bò rất hiếm này đã được đưa vào Sách đỏ Việt Nam, Nghị định 32/HĐBT và Nghị định 48/2002/NĐ-CP của Chính phủ cấm săn bắn, bẫy bắt và kinh doanh. Cần cấm khai thác rừng ở những vùng còn Bò tót sinh sống để bảo vệ nơi ở cho loài này.

Bò tót
Bò tót

Thanh Vony 2018-04-02 20:06:11

ồ thank you


(adsbygoogle = window.adsbygoogle || []).push({});

2


Riaka Akira

Hổ

Kích cỡ lớn nhất trong Họ Mèo Felidae mà thậm chí nặng 200 – 250kg. Nền lông vàng hoặc vàng sáng, phần bụng trắng. Mặt và dọc thân có nhiều sọc đen. Toàn cầu có 5 phân loài hổ. Hổ sống ở vùng Đông nam Á gồm cả Việt Nam thuộc phân loài Hổ Đông dương (Panthera tigris corbetti Mazak, 1968) có kích thước nhỏ hơn những phân loài khác. Do bị săn bắn, số lượng của những loài hổ giảm mạnh, chỉ với khoảng vài chục cá thể sinh sống tại những rừng của Việt Nam. Dấu hiệu sinh sản của loại động vật họ mèo này đã không thể được ghi nhận trong nhiều năm gần phía trên. Hiện tại thì những cá thể hổ còn sót lại đã được nhà chức vụ nuôi trong chuồng nhằm mục đích duy trì trạng thái sống sót của chúng, tránh nạn săn bắt động vật rất hiếm. Hiện tại chỉ với khoảng 5 cá thể tồn tại ngoài tự nhiên.

Loài hổ (cọp) mà thậm chí đã tuyệt chủng tại Việt Nam. Này là một thực sự đáng buồn, thậm chí đau lòng luyến tiếc. Trong suốt một thời hạn dài khoảng trên 15 năm qua (từ thời điểm năm 1990), tại Việt Nam không tồn tại thêm ngẫu nhiên ghi nhận nào mới về dấu hiệu của hổ ngoài môi trường xung quanh tự nhiên. Nhiều Chuyên Viên nghĩ là tại Việt Nam loài hổ đã tuyệt chủng, trong cả trong khu bảo tồn thiên nhiên tự nhiên hoặc vườn vương quốc cũng không thể hổ. Một khi chúng ta mà thậm chí thấy một con hổ (dù là sau cuối) xuất hiện ngoài thiên nhiên tự nhiên hoang dã ở Việt Nam? Theo giám đốc một Vườn vương quốc, lâu lắm rồi ông và đồng nghiệp không nhận được thông tin về vết chân hay những lần gia súc bị loài hổ ăn thịt như trước. “Hổ hoang dã Việt Nam mà thậm chí đã biến mất. Nếu như có thì chúng thường phân bố ở khu vực giáp biên giới với Lào và Campuchia, từ Nghệ An đến Quảng Nam; Chư Mon Ray (Kon Tum); Bù Gia Mập (Bình Phước), nhưng tần suất xuất hiện của loài rất ít và gần như không tồn tại”, ông nói.

Hổ hoang dã Việt Nam có thể đã biến mất.
Hổ hoang dã Việt Nam mà thậm chí đã biến mất.

3


Riaka Akira

Sao La

Sao la (Pseudoryx nghetinhensis), một trong những loài thú hiếm nhất trên trái đất, sinh sống ở vùng núi rừng hẻo lánh ở dãy Trường Sơn tại Việt Nam và Lào. Sao la là loài có nguy hại tuyệt chủng trong tự nhiên rất cao, được xếp hạng ở mức nguy cấp trong Sách Đỏ của Liên minh Bảo tồn Toàn cầu (IUCN) và trong Sách Đỏ của Việt Nam.

Kích thước cỡ lớn, thân dài tới 1,3 – 1,5m, trọng lượng: 80 – 120kg. Đầu màu nâu sẫm có những vạch trắng hoặc đen nhạt. Mặt màu nâu sẫm hay nâu đỏ nhạt, cả đực và cái đều phải sở hữu những sọc trắng ở trên và dưới thị giác, nhiều vạch trắng ở cằm và cổ. Mặt sau tai màu nâu. Phần sườn lưng màu nâu phí a bên sườn có vạch trắng nhạt phân cách sườn lưng với những chân màu đen nhạt. Bộ lông mềm mượt có những xoáy ở giữa mũi, hai phía cổ và hai vai. Ngay trên móng guốc có vòng trắng ở cả 4 chân. Sừng dài, gần như thẳng, không phân nhánh, mút sừng nhọn, nhẵn bóng, lõi sừng kéo dãn dài tới mút sừng.

Là loài động vật được phát hiện trước nhất tại Việt Nam vào tháng 5/1992. Vào thời điểm đó việc phát hiện Sao La đã gây chấn động toàn trái đất, vì việc phát hiện ra một loài động vật lớn vào mức độ thế kỷ 20 là khó xẩy ra. Với cuộc sống đời thường bất bênh của tớ, loài động vật này được xếp vào nhóm động vật có nguy hại tuyệt chủng cao ở Việt Nam. Hiện tại còn 50 đến 60 cá thể được nuôi dưỡng tại những vườn vương quốc. Việc phát hiện loài sao la lần trước nhất tại Việt Nam năm 1992 và tìm thấy một cá thể loài này mới phía trên lúc nó có nguy hại tuyệt chủng là những sự kiện quan trọng về động vật trên trái đất trong hơn 50 năm qua. Hiện những Chuyên Viên vẫn không thể Review số lượng đúng mực số lượng cá thể sao la còn sinh sống. Tuy nhiên họ nghĩ là loài thú rất hiếm này mà thậm chí gặp những mối mối đe dọa đến môi trường xung quanh sống và số lượng loài do nạn săn bắt trộm lúc chúng mà thậm chí bị dính bẫy săn những con vật khác như hươu, nai, lợn rừng… của những tay thợ săn.

Sao la
Sao la

4


Riaka Akira

Hươu Vàng

Hươu vàng (danh pháp khoa học: Hyelaphus porcinus) là một loài động vật có vú trong họ Hươu nai, bộ Guốc chẵn. Loài này được Zimmermann mô tả năm 1780. Tại Việt Nam, hươu vàng sinh sống ở Tây Nguyên trong những khu vực đầm lầy của những tỉnh Kontum, Đắk Lắk, Lâm Đồng, và Đồng Nai. Tổng số ở Việt Nam chỉ khoảng vài trăm con. Vì trạng thái nguy hại diệt chủng, hươu vàng được liệt kê trong Sách đỏ Việt Nam. Trên đây là những loài hươu nai có kích thước tương đối nhỏ và có màu nâu hay màu vàng đậm tổng thể. Tổng số ở Việt Nam chỉ khoảng vài trăm con. Vì trạng thái nguy hại diệt chủng


Hươu vàng Việt Nam là con vật đẹp, có tầm vóc nhỏ, lờ lững và nặng nề. Nai cỡ trung bình bình thân dài khoảng 1,3-1,5m, cao vây từ 66–74 cm. Trọng lượng tối đa mà thậm chí lên tới 50 – 60 kg (trung bình từ 35–45 kg). Khối lượng sơ sinh trung bình là từ 2.0-2.11 kg, 3 tháng tuổi: 7.9-8.14 kg, 6 tháng tuổi: 13.4 -14.25 kg, 9 tháng tuổi: 15.4-16.8 kg và 12 tháng tuổi: 17.5 -19.40 kg. Bộ lông ngắn mền, màu vàng hung hay vàng xám. Nhìn tổng thể chúng có lông da màu vàng nâu hay màu hạt dẻ. Lông ở sườn lưng dài thô nhưng vẫn không tạo thành bờm. Ngực, bên trong đùi và bụng có white color sáng hơn. Sừng nhỏ dài 37–50 cm, mảnh ngắn, có 2-3 nhánh (hai nhánh phụ, một nhánh chính) nhỏ hơn sừng Nai, nhưng lớn và dài thêm hơn sừng hoẵng. Đế sừng ngắn lại đế sừng Hoẵng.

Nhìn tổng thể, thân hình chúng cân đối, đầu ngắn, thị giác to trong sáng, tai ngắn, cổ dài vừa phải. Ngực to tròn và sâu nhất là ở những con đực. Đuôi ngắn, lông phần trên có màu hạt dẻ và phần dưới có white color. Hươu có 4 chân ngắn thon, mảnh. Hình dáng thấp so với cấu trúc thể chất con vật nhưng săn chắc. Hươu vàng có màu sắc lông thay đổi theo mùa: Từ màu hạt dẻ nhạt đến màu nâu bóng mượt rồi đến nâu sẫm (ngày mùa đông), hươu cái có màu nhạt hơn con đực. Hươu vàng thay lông mỗi năm một lần, thời hạn thay lông từ thời điểm tháng 1 đến tháng 5. Trong thời hạn thay lông, lông xù lên và rụng từng đám lởm chởm không được đều. Việc thay lông ra mắt trước nhất ở vai, đùi, sườn lưng và toàn thân. Con đực thường thay lông sớm hơn con cái. Trong mùa động dục con đực có màu lông sẫm bóng toàn thân, và nhất là mặt ngoài của 4 chân. Hươu vàng phân bố tại một vài khu vực thuộc Tây Nguyên và Nam Trung Bộ, số lượng chỉ với vài trăm con nhưng hiện nay thì không thể dấu hiệu sinh sống của chúng, những nhà sinh vật học đang tìm thấy Review có thời gian làm việc loài hươu sao này đã tuyệt chủng. Ở Việt Nam chỉ với vài trăm cá thể hươu vàng.

Hươu Vàng
Hươu Vàng

5


Riaka Akira

Voọc mũi hếch

Voọc mũi hếch là một loài động vật quan trọng đặc biệt chỉ xuất hiện ở một vài tỉnh miền núi phía Bắc Việt Nam. Trạng thái săn bắt trên mức cần thiết, phá rừng lấy gỗ làm nương đang đẩy loài động vật này đến nguy hại tuyệt chủng. Hiện tại còn khoảng 80 cá thể được nhóm FFI (Tổ chức Bảo tồn động thực vật quốc tế) phát hiện. Và theo ước tính của họ còn khoảng 110 cá thể đang sinh sống ở Việt Nam. Chúng có bộ lông màu nâu đen, lông trên đầu và quanh mặt trắng nhạt, không tồn tại mào trên đỉnh đầu, vùng ngực, bụng, mặt trong chi trước và chi sau có white color mờ. Mảng lông trắng này kéo chùm ra phía ngoài khuỷu tay. Đuôi dài thêm hơn thân, lông xù. Voọc con mới đẻ lông màu vàng nhạt, lúc lớn chuyển màu như voọc trưởng thành.

Voọc mũi hếch là một trong những loài linh trưởng rất hiếm nhất trên trái đất hiện nay và là loài đặc hữu của Việt Nam. Hiện trên trái đất chỉ với khoảng 200 cá thể voọc mũi hếch, riêng tỉnh Hà Giang đã có khoảng 180 cá thể. Năm 2002, một quần thể voọc mũi hếch khoảng 60 con được phát hiện tại vùng rừng núi Khau Ca, một trong 6 vùng rừng núi đặc dụng của Hà Giang. Ngay sau đó, Dự án công trình bảo tồn voọc mũi hếch được triển khai dưới sự hỗ trợ của Tổ chức Bảo tồn động, thực vật hoang dã Quốc tế (FFI) giúp loài vật này thoát khỏi nguy hại tuyệt chủng.

Voọc mũi hếch có điểm lưu ý lông đen; cánh tay, đùi, mặt và đầu có white color kem; trong cổ họng có mảng lông màu da cam… Những năm qua, Tổ chức FFI và lực lượng Kiểm lâm Hà Giang thường xuyên tuần tra, giám sát sinh học tại những địa phận có sự tồn tại của voọc mũi hếch; tiến hành tích lũy số liệu nhiều mẫu mã sinh học; kiểm soát, thâu tóm thông tin những hoạt động và sinh hoạt xâm hại đến sinh cảnh của voọc mũi hếch.

Voọc mũi hếch
Voọc mũi hếch

6


Riaka Akira

Voọc đầu trắng

Theo hiệp hội bảo vệ tồn thiên nhiên tự nhiên trái đất, trên toàn thế giới chỉ với khoảng 60 cá thể Voọc đầu trắng sinh sống, những cá thể này đều triệu tập tại Việt Nam, đảo Cát Bà (Hải Phòng Đất Cảng). Nơi rừng đang bị mối đe dọa nguy kịch từ những khu phượt nghỉ ngơi. Điểm lưu ý nhận dạng là bộ lông dày, sợi lông hơi thô cứng. Con trưởng thành có đầu, vai white color vàng, vùng mông màu xám nhạt. Đầu có mào lông với gốc lông màu vàng nhạt, mút lông phớt xám. Đuôi dài, thon, dày lông và màu đen. Con non mới sinh có lông màu vàng nhạt.

Ngày 2 tháng 6 năm 2003, tại Trung tâm cứu hộ linh trưởng thuộc Vườn Vương quốc Cúc Phương, lần trước nhất trên trái đất một con voọc Cát Bà đã sinh được một voọc con khỏe mạnh. Cặp voọc cha mẹ được lực lượng kiểm lâm Cát Bà cứu thoát từ tay thợ săn năm 1998 và 2000 sau đó đưa về nuôi dưỡng tại Trung tâm cứu hộ linh trưởng. Hiện nay, số lượng loài này trong tự nhiên chỉ với từ 50 đến 60 cá thể (nguồn IUCN) và chúng đang phải đương đầu với việc mất môi trường xung quanh sinh sống từ những mối đe doạ lớn nhất là: Nạn săn bắt trộm, việc phá rừng làm đất trồng trọt và sự phát triển phượt ồ ạt tại đảo Cát Bà. Voọc đầu trắng cũng là loài đang gặp nguy hiểm, nhưng mức độ thấp hơn của voọc Cát Bà. Tựa như mọi thành viên của nhóm loài Trachypithecus francoisi, phân loài này còn có tập tính sinh sống tập thể, kiếm ăn ban ngày trong những vùng rừng núi đá vôi.


Voọc đầu trắng sống ở rừng trên núi đá, giống Voọc má trắng. Voọc đầu trắng sống đàn số con trong đàn đổi khác từ 5 đến 15 con, trung bình 9,36 con và tỷ trọng đực/cái từ là một/1,5 đến1/2 (Nguyễn Phiên Ngung, 1997). Nadler, T và Hà Thăng Long, 2000 cho thấy thêm số lượng con trung bình của một đàn Voọc đầu trắng đổi khác từ 5,6 đến 6,7 con. Voọc đầu trắng ngủ trên vách đá vào mùa nóng và trong hang vào mùa lạnh. Chúng thường chọn những vách đã dựng đứng, có nhiều hang nhỏ để làm nơi ngủ. Voọc đầu trắng kiếm ăn ngày hai buổi sớm và chiều. Cường độ kiếm ăn mạnh vào đầu buổi sớm và giảm dần vào lúc 9 đến 10 giờ trưa. Hoạt động và sinh hoạt thầm lặng, dịch chuyển nhẹ nhàng cả trên cây lẫn mặt đất. Thức ăn là lá, quả cây rừng, không ăn động vật. Những bước đầu tiên đã ghi nhận được Voọc đầu trắng ăn 74 loài thực vật thuộc 31 Họ:, trong đó có 54 loài được Voọc sử dụng lá chồi non, 34 loài được ăn quả. Chưa gặp chúng ăn củ loài nào. Chưa tồn tại phân tích về sinh sản của Voọc đầu trắng. Quan sát những đàn Voọc đầu trắng qua nhiều năm ở đảo Cát Bà cho thấy chúng có thời gian làm việc sinh sản quanh năm nhưng triệu tập nhất từ thời điểm tháng 4 đến tháng 10. Mỗi lứa đẻ một con. Con mới sinh có màu vàng.

Voọc đầu trắng
Voọc đầu trắng

7


Riaka Akira

Voi

Voi Việt Nam là quần thể voi sinh sống, phân bố tại Việt Nam, gắn bó với đời sống, lịch sử dân tộc, văn hóa truyền thống của xã hội những dân tộc Việt Nam. Voi Việt Nam thuộc nhóm voi châu Á và là loài động vật từng phân bố khắp những vùng miền ở Việt Nam, gắn bó với sản xuất, chiến đấu và văn hóa truyền thống của những dân tộc ở Việt Nam. Tuy nhiên, hiện tại voi hoang dã đang trong trạng thái nguy ngập và chỉ hay xuất hiện ở Tây Nguyên, nhất là Đắk Lắk. Voi Việt Nam cũng tương tự Voi châu Á, cặp ngà voi dài. Thân cũng không lớn bằng những loài Voi châu Phi, ăn những loài thực vật cơ bản trái cây, thân những cây mềm như cây chuối, v,v..Kích thước rất rộng lớn, mà thậm chí dài 6m. Môi trên và mũi phát triển thành vòi dài. Hai răng nanh lớn phát triển thành ngà. Voi đực có hai ngà, mỗi ngà dài tới 150 cm, nặng 15 – 20 kg. Có 12 răng hàm, mỗi bên 3, mọc sít nhau gần như một chiếc. Da dày, lông thưa, dài, cứng màu nâu xám (đôi lúc trắng). Với vận tốc giết để lấy lông đuôi, số lượng voi Việt Nam giảm với vận tốc chóng mặt và đau đầu, nếu không tồn tại kế hoạch bảo tồn ngay bây giờ thì loại động vật này sẽ biến mất khỏi bạn dạng đồ Việt Nam. Số lượng voi hiện tại triệu tập cơ bản ở Tây Nguyên VN.

Voi
trong đời sống của những xã hội dân tộc dẫn rõ: Không được đánh đập, nhục mạ voi. Lúc voi mệt rũ rời, ốm đau phải được chăm sóc, nghỉ ngơi thư dãn và không được bóc tách lột sức lao lực của voi trên mức cần thiết. Phải ứng xử với voi như một thành viên trong xã hội… Người đồng bào M’Nông đã đưa vào Luật tục bảo vệ voi cho xã hội buôn làng, nó hình như cũng là tiếng nói tóm lại cho xã hội trên cao Nguyên. Vào những thời điểm này ngà voi những quản tượng không để dài cặp ngà nữa, thì việc để thích ứng môi trường xung quanh như tự vệ quân thù, đào đất không thể được, những nguyên nhân cũng do sợ bị trộm cưa mất cặp ngà thì quản tượng phải cưa trước. Lông đuôi voi dân gian thường quan niệm rằng nó mà thậm chí trừ được ma quỷ, nên mọi người thường lấy lông đuôi voi làm những đồ trang sức quý cho riêng mình. Đổi lại lông đuôi voi bị người ta rứt trộm nhiều, voi ngày càng ít thì số lông ở phần đuôi cụt ngủn tìm được con nào rất đầy đủ lông ở phần đuôi là rất khó.

Ngày này voi nhà có nhiều điều đáng lo ngại là việc sinh đẻ của loài voi trong thời hạn qua khá nhã nhặn, nhất là đàn voi nhà mà thậm chí được xem là bị “vô sinh” vì nhiều lý do không giống nhau, trong đó có một vài nguyên nhân chính như: voi thiếu môi trường xung quanh để sinh sống và sinh hoạt để di truyền nòi giống, voi bị khai thác phục vụ phượt đến mức kiệt quệ, voi bị bệnh nhưng có giải pháp trị liệu. Chiều dài con trưởng thành 2.9m. Cao 1.8m, đường kính thân 1,5m.

Voi
Voi

8


Riaka Akira

Cò Quăm cánh xanh

Cò quăm cánh xanh còn được tìm đến với tên thường gọi khác là cò quăm vai trắng. Cò quăm cánh xanh là một loài chim có kích thước lớn với chiều dài từ 75cm – 85cm. Cò quăm cánh xanh là một trong những loài chim rất hiếm nhất trái đất.

Loài chim này đã biến mất trọn vẹn khỏi những vườn chim ở miền Nam trong những năm gần phía trên. Hiện số lượng loài này ở Việt Nam còn rất ít và có nguy hại tuyệt chủng. Tại Vườn vương quốc Cát Tiên, chúng đậu trên một vài gốc cây gỗ lớn trơ trụi, sót lại bên bờ suối. Còn tại Hòn Chông, loài cò quăm cánh xanh kiếm ăn trên khu đồng cỏ ngập nước theo mùa, đất ruộng lúa sau thu hoạch có nước mặt phẳng.

Nhiều phần, cò quăm cánh xanh sống ở trong rừng cây thưa, ao hồ, đất ngập nước trũng hoặc những dòng sông chảy chậm trong rừng..Trên trái đất, cò quăm cánh xanh phân bố ở miền Bắc Campuchia, Đông Kalimantan của Indonesia và đồng bằng Nam Bộ, miền Nam nước Lào. Loài vật này còn có nguồn gen quý, bị suy giảm nguy kịch về số lượng, rất hiếm, hiện đang bị mối đe dọa tuyệt chủng trong nước, khu vực và trái đất, rất cần được bảo vệ. Ở VN, cò quăm cánh xanh đã biến mất trọn vẹn khỏi những vườn chim ở miền Nam trong những năm gần phía trên. Những nhà phân tích tìm thấy ở Vườn vương quốc Cát Tiên (3 cá thể trong những năm 1991- 1992), và Kiên Giang, tại vùng đất ngập nước Hòn Chông (gặp 2 cá thể, năm 1999).

Số lượng cò quăm cánh xanh ở Việt Nam chỉ với rất ít do chúng bị mất nơi cư trú. Nhìn chung, vùng làm tổ, kiếm ăn của chúng bị quấy nhiễu, bị thu hẹp, chia cắt và suy giảm do nhiều hoạt động và sinh hoạt không giống nhau của con người và sự khô hạn của thời tiết. Thậm chí, cò quăm cánh xanh còn được Sách Đỏ của Tổ chức Bảo tồn Thiên nhiên tự nhiên Quốc tế (IUCN) xếp ở mức cực kỳ nguy cấp (CE). Loài cò này sắp mang tên trong danh sách những loài động vật rất hiếm sắp tuyệt chủng. Và hiện tại ở miền Nam đã trọn vẹn biến mất.

Cò Quăm cánh xanh
Cò Quăm cánh xanh

9


Riaka Akira

Rùa da

Là loài lớn nhất trong họ nhà rùa. Và là loài bò sát lớn thứ tư sau 3 loài cá sấu. Được hiệp hội bảo vệ động thực vật trái đất xem là động vật rất hiếm nhất Thế Giới. Nhìn sơ lượt thì chúng giống với những loài rùa biển khác, chỉ có kích thước to hơn và không tồn tại mai. Loài rùa này sống cơ bản ở những vùng biển miền trung bộ. Loài rùa này không tồn tại răng mà thay vào này là những gai nhọn mọc trong miệng giúp rùa giữa thức ăn lại. Thức ăn của nó cơ bản là những loài sứa dịch chuyển chậm. Loài rùa có kích thước rất rộng lớn, thân chứa đựng bởi 1 lớp da, mai có 7 gờ xương ở sườn lưng, không tồn tại vảy (lúc còn nhỏ mai được phủ một lớp vảy có dạng hạt chấm trắng nhỏ). Đầu có dạng tam giác rộng. Hàm trên có 2 chỏm nổi lên rất rõ. Hai chân bơi trước rất dài, không tồn tại vảy, không tồn tại móng vuốt. Ở mặt sườn lưng màu đen, xen lẫn những vạch hoặc đốm trắng. Có lúc trên cổ và chỗ tiếp giáp giữa chân bơi với thân có chấm màu hơi xanh hoặc hồng. Yếm có nhiều những sắc tố nhẹ. Yếm nhỏ lồi lên bởi những chiếc xương. Rùa trưởng thành có trọng lượng khoảng dưới 500 kg.

Là loài có kích thước lớn nhất trong những loài rùa biển phát hiện ở vùng biển VN. Chiều dài bình quân của con đực đạt 114cm, con cái đạt 139 cm; nặng đến 500kg. Chiều dài lớn nhất đạt 240cm. Mỗi tổ trứng trung bình có 80 – 90 trứng, đường kính trứng trung bình từ 5,1 – 5,5cm. Sống xa bờ, ít phát hiện. Sinh sống ở vùng cát, vùng triều, vùng khơi, ven đảo. Sinh cảnh thích hợp là những bãi tắm biển nhiệt đới dài, rộng có độ dốc, chỉ có cát, không tồn tại đá, nước sâu trong suốt hay có bùn mềm mặt đáy. Vùng biển nhiệt đới, ôn đới, xứ lạnh của Thái Bình Dương, Ấn Độ Dương và Đại Tây Dương. Làm tổ ở những bãi đơn độc ven biển. Một số trong những bãi làm tổ với tỷ lệ thấp trên những đảo (Antille lớn và nhỏ, quần đảo Solomon; những đảo ở biển Bismark).

Là một trong những loài quan trọng trong hệ sinh thái biển và giúp những nhà phân tích tìm hiểu quá trình di cư của loài này trên những đại dương. Rùa da đã trở nên quan trọng cho những mục đích không săn bắt như: tham quan, phượt, học tập, phân tích khoa học v.v…Trước năm 1975, nguồn lợi Rùa da ở VN tương đối nhiều, nhưng tại vì trạng thái ô nhiễm ở một vài vùng nước ven bờ tăng nên từ thời điểm năm 1975 đến nay nguồn lợi này bị suy giảm một cách nguy kịch. Dự đoán số lượng giảm >80%, chỉ với khoảng < 250 cá thể trưởng thành.

Rùa da
Rùa da

10


Riaka Akira

Rùa hồ Gươm

Rùa Hồ Hoàn Kiếm thuộc một nhánh của rùa mai mềm khổng lồ sông Dương Tử. Cũng là loài rùa rất hiếm trên trái đất và ở Việt Nam chỉ có ở hồ Gươm. Thời hạn gần phía trên hồ Gươm bị ô nhiễm nặng kéo theo 1 cá thể rùa đã chết. Những con rùa có chiều dài thêm hơn 100 cm, bề ngang rộng 70 cm và nặng 70 – 100 kg. Riêng phần mai rùa dài trên 50 cm và đạt chu vi 106 cm. Con đực nhỏ hơn con cái và có chiếc đuôi dài to hơn. Loài rùa này còn có nguồn gốc từ sông Dương Tử và Thái Hồ, tại vùng giáp ranh những tỉnh Giang Tô và Chiết Giang ở miền đông Trung Quốc. Sau lúc cụ rùa hồ Gươm chết thì trên trái đất chỉ với 3 cá thể.

Rùa Hồ Hoàn Kiếm có kích thước khá lớn, đầu tương đối nhỏ và rộng, mõm ngắn, tròn, vòi rất ngắn, sườn lưng màu vàng lục có những đốm vàng, yếm bụng white color nhạt. Mai rùa mềm chứ không cứng như loài rùa thường thì. Theo di thể rùa chết vào thập niên 1960 hiện lưu giữ trong đền Ngọc Sơn thì cá thể đó khối lượng 250 kg với chiều dài 2,1 m và chiều rộng 1,8 m. Cá thể mà thành phố thủ đô bắt để điều trị vết thương trên thân rùa trong tháng 4 năm 2011, giống cái, nặng 169 kg với chiều dài toàn thân của Rùa là 185 cm; chiều rộng mai là 99 cm, chiều dài đuôi là 35 cm. Cũng theo giả thuyết của PGS Hà Đình Đức, Rùa Hồ Hoàn Kiếm mà thậm chí có nguồn gốc từ Lam Kinh, Thanh Hóa, cùng quê với vua Lê Lợi, và được vua Lê thả vào Hồ Hoàn Kiếm, vì trước đó không tồn tại thông tin gì về loài rùa lớn nào tại Thăng Long. Theo GS Lê Trần Bình, so sánh cho thấy mẫu ADN của rùa hồ Gươm giống rùa Quảng Phú – Thanh Hóa.

Năm 2010, có một cá thể rùa mai mềm với chiều dài 1,2 m nặng 52 kg chết đã được TS. Vũ Ngọc Thành nguyên cán bộ khoa Sinh, ĐH Khoa học Tự nhiên thủ đô làm tiêu bạn dạng. Rùa Hồ Hoàn Kiếm hiện có số lượng rất ít, thuộc diện động vật rất hiếm ở mức quan trọng đặc biệt nguy cấp, rất cần được bảo vệ.

Rùa hồ Gươm
Rùa hồ Gươm

11


Hien Hoang

Tê giác một sừng

Tê giác một sừng Việt Nam (Danh pháp khoa học: Rhinoceros sondaicus annamiticus) là một phân loài của loài tê giác một sừng (Rhinoceros sondaicus) phân bố ở Việt Nam sống ở Việt Nam, Lào, Campuchia, tới cả Thái Lan và Malaisia. Thuật ngữ Annamiticus bắt nguồn từ tên thường gọi Annamite của dãy Trường Sơn ở Đông Dương, một phần khu vực phân bố của loài này, chúng còn biết với tên Tê giác Java Việt Nam hay còn gọi giản dị và đơn giản là Tê giác Việt Nam vì Việt Nam chỉ có loài này, người Xtiêng gọi chúng là Pai-ro-mhai. Phân tích di truyền cho thấy rằng hai phân loài còn tồn tại ở Việt Nam và Indonesia đã có cùng một tổ tiên chung cách phía trên ước lượng 300.000 đến 2 triệu năm vừa qua. Giống tê giác một sừng được xem là bị tuyệt chủng tại đất liền châu Á cũng như Khu vực Đông Nam Á lục địa, cho tới lúc người ta phát hiện ra một cá thể tê giác bị săn bắn vào năm 1988 tại khu vực Cát Tiên.

Dù được con người quan tâm bảo tồn nhưng diện tích S cư trú của tê giác vẫn bị xâm lấn 15% vào năm 1990 và số lượng tê giác còn sống đã giảm xuống chỉ với 5-8 con vào năm 1999. Theo Review năm 2000, có khoảng 6.000 người sống bên rìa khu vực Vườn vương quốc, ở những vùng bãi bồi triền sông, môi trường xung quanh sống ưa thích của tê giác, chính thức xâm lấn để trồng lúa, cộng thêm với lực lượng kiểm lâm bảo vệ ít ỏi (dưới 20 người), nên người ta nghĩ là tê giác Việt Nam chỉ mà thậm chí tồn tại trong vòng từ 3-5 năm nữa. Sau đó cơ quan bảo tồn ước tính chỉ với 3-8 con tê giác và mà thậm chí không tồn tại con đực nào sống sót.

Tê giác Việt Nam sinh sống ở Vườn Vương quốc Cát Tiên triệu tập cơ bản trong phạm vi khoảng 5.000 ha rừng trên địa phận xã Gia Viễn. Trong số đó, cá thể tê giác sau cuối đã từng sống tại vùng rừng núi Cát Lộc, khu vực phía bắc của Vườn Vương quốc Cát Tiên. Vườn Vương quốc Cát Tiên được nhiều người tìm đến bởi là khu bảo tồn động vật hoang dã và từng có loài tê giác một sừng tồn tại, trong lúc đó loài này đã tuyệt chủng ở khu vực đất liền Khu vực Đông Nam Á nhưng con tê giác sau cuối cũng từng gục ngã trước tiếng súng của đám săn bắn.

Tê giác một sừng
Tê giác một sừng

12


Hien Hoang

Voọc mông trắng

Voọc mông trắng (Trachypithecus delacouri) là loài linh trưởng đặc hữu, chỉ có phân bố tự nhiên ở Việt Nam, được Jean Théodore Delacour phát hiện năm 1903 và được Wilfred Hudson Osgood mô tả năm 1932. Đầu những năm 1990, một đợt khảo sát rộng đã nghi nhận 19 quần thể với tổng số 50-57 đàn và 281-317 cá thể trong phạm vi khoảng 5.000 km2 ở miền Bắc Việt Nam. Những cuộc khảo sát gần phía trên chỉ ra rằng rằng loài này đã biết thành suy giảm nguy kịch cả về số lượng quần thể và cá thế. Trong hơn một thập kỷ vừa qua, tám đến chín tiểu quần thể đã biết thành diệt vong. Tổng số cá thể của loài trước cuộc khảo sát này được ước lượng trong tài liệu của Nadler và Brockman (2014). Quần thể lớn thứ hai trên trái đất của Voọc mông trắng, cực kỳ nguy cấp, mới được Tổ chức Bảo tồn động vật hoang dã trái đất (FFI) tìm thấy tại Việt Nam.


Voọc mông trắng là loài linh trưởng chỉ có ở Việt Nam, phân bố ở những tỉnh phía Bắc như: Yên Bái (Văn Chấn), Hoà Bình (Chi Nê), Ninh Bình (Cúc Phương, Vân Long), Thanh Hoá (Hồi Xuân, Lang Chánh), Nghệ An (Quỳ Châu, Con Cuông), thành phố Hà Tĩnh (Hương Sơn). Voọc quần đùi trắng hay voọc mông trắng, loài linh trưởng cỡ lớn thuộc họ Khỉ Cựu trái đất (Cercopithecidae), bộ Linh trưởng (Primates), mang tên trong Sách Đỏ của Việt Nam và trái đất. Voọc quần đùi trắng trên đỉnh đầu có mào lông màu đen, có vệt lông trắng khá rộng hai phía má kéo dãn dài lên phía trên vành tai.

Do những hoạt động và sinh hoạt của con người như săn bắn, khai thác gỗ, khai thác đá, đốt than… loài này đứng trước nguy hại tuyệt chủng với số lượng sót lại dưới 250 cá thể. Tuy vậy bị đe doạ xoá sổ trong vòng một thập kỷ, những nhà nghiên cứu khoa học giờ phía trên lại có hy vọng chúng mà thậm chí được giải cứu khỏi sự tuyệt chủng. Voọc mông trắng là loài quan trọng đặc biệt chỉ có tại Việt Nam. Theo FFI, những hoạt động và sinh hoạt của con người như săn bắn, khai thác gỗ, khai thác đá, đốt than, loài này đang bị đe doạ tuyệt chủng với số lượng sót lại dưới 250 cá thể. Tuy vậy bị đe doạ xoá sổ trong vòng một thập kỷ, tuy nhiên, với phát hiện mới này sẽ là trung tâm để giải cứu loài này thoát khỏi sự tuyệt chủng.

Voọc mông trắng
Voọc mông trắng

13


Hien Hoang

Cá sấu hoa cà

Cá sấu hoa cà hay còn gọi cá sấu nước mặn thường sống ở cửa sông, phía trên là loại bò sát lớn nhất. Cá sấu hoa cà thường dài khoảng 5 – 8m, trọng lượng trung bình khoảng 700 kg – 1.200 kg/ con, loài cá sấu hoa cà nhỏ hơn con đực, chiều dài không quá 4m/ con. Cá sấu hoa cà tập trung nhiều ở Ấn độ, Indonesia, khu vực cửa sông vùng Đông Nam Á. Chúng là những vận đông viên bơi lội rất khỏe. Chúng có một chiếc đầu khá lớn đặc trưng bởi hai gờ nổi xuất phát từ thị giác và kéo dãn dài đến giữa mũi. Vảy loài này hình trái xoan. Cá sấu hoa cà con có màu vàng nhạt, chúng mang những sọc, chấm trên thân và đuôi. Cá sấu trưởng thành có màu sẫm hơn, màu nâu vàng đến màu xám. Mặt bụng white color hoặc vàng, những sọc xuất hiện ở phần dưới của thân nhưng vẫn không kéo dãn dài hết mặt bụng. Đuôi có màu xám với những vạch đen. Chúng sở hữu một bộ hàm cực khỏe với khoảng 64 – 68 răng. Ngoài tự nhiên hầu như không gặp, chỉ với số ít được nuôi trong vườn động vật do săn bắt tuyệt chủng.

Cá sấu hoa cà là động vật thông minh và có hành vi phúc tạp, chúng thường tập trung nhiều ở cửa sông, thức ăn của cá sấu rất đa dạng, cá sấu con ăn những loài côn trùng nhỏ, động vật lưỡng cư, bò sát, giáp xác và những loài cá nhỏ. Cá sấu trưởng thành ăn cua, còng, rùa, rắn, chim, bò rừng, lợn lòi và khỉ. Chúng sinh sản trong khu vực nước ngọt vào mùa lúc nào cũng ẩm ướt. Con đực lưu lại lãnh địa mình và bảo vệ lãnh địa này lúc cá sấu đực khác có ý xâm phạm. Cá sấu đực không tồn tại thời gian làm việc bảo vệ lãnh địa sẽ phải tìm một khúc sông khác. Cá sấu cái trưởng thành lúc đạt 10-12 năm tuổi, trong lúc con đực có tuổi trưởng thành là 16 năm tuổi. Cá sấu hoa cà cái đẻ trung bình khoảng 40-60 trứng nhưng cũng mà thậm chí đẻ đến 90 trứng. Cá sấu con lớn lên trong những con sông trong suốt mùa ẩn ướt từ tháng 12 đến tháng 3 năm sau. Cá sấu hoa cà là loài bò sát cỡ lớn, khác lạ với cá sấu xiêm ở phần đầu, chiều dài thể chất tới 6m. Mõm dài, có 2 gờ chạy từ mũi tới thị giác, không tồn tại tấm sau chẩm. Toàn thân phủ tấm sừng, những tấm sừng trên sườn lưng xa nhau chừng bởi màng da. Đuôi cao, to và khỏe, phía trên có 4 gờ. Chân sau có màng bơi nối giữa những ngón. Trên sườn lưng màu vàng và xám đen xen kẽ nhau.

Cá sấu hoa cà
Cá sấu hoa cà

Trên phía trên là top những động vật có nguy hại tuyển chủng cao vì những lí do săn bắt và tàn phá môi trường xung quanh sống của chúng. Ngay thời điểm ngày hôm nay chúng ta phải có ý thức trong việc bảo vệ rừng, bảo vệ môi trường xung quanh để những loài động vật khác không phải rớt vào trạng thái báo động đỏ làm mất điều độ sinh thái.

Related Articles

Trả lời

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai.

Back to top button